Osho - Thiền động (Đi tìm điều huyền bí - Tập
1)
Chương 10. Thiền không lời cầu nguyện có tương
lai lớn
Người hỏi: Thầy nói tại trại thiền Nargol tổ chức gần đây, rằng sadhana hay kỉ luật về kundalini là cách chuẩn bị thân thể. Xin thầy giải thích điều đó?
Trước hết, thân thể và linh hồn trong chính
chiều sâu của chúng là không tách rời; khác biệt giữa chúng là rất bề mặt. Khi
toàn thể chân lí của nó được biết tới, chúng ta không còn thấy thân thể và linh
hồn như hai thực thể tách biệt; chúng ta thực sự thấy chúng là một và như nhau.
Trong thực tế, thân thể là phần của linh hồn có thể được lĩnh hội qua các giác
quan, còn linh hồn là phần của thân thể ở bên ngoài lĩnh hội của các giác quan.
Cho nên linh hồn là đầu vô hình của thân thể, còn thân thể là đầu hữu hình của
linh hồn.
Nhưng điều này được biết tới chỉ khi người ta
đi tới việc kinh nghiệm tối thượng về chân lí.
Điều kì cục là nói chung chúng ta tất cả đều
tin rằng thân thể và linh hồn là một và cùng một thứ. Nhưng tin chung này là ảo
tưởng, bởi vì chúng ta thực sự không biết linh hồn là gì. Thay vì thế chúng ta
lấy thân thể thế cho linh hồn. Nhưng ngay cả ảo tưởng và niềm tin phổ biến này
cũng đều xuất phát từ cùng một chân lí cơ sở - đằng sau nó có cùng tri thức về
sự thống nhất này; ở nơi sâu kín vô hình nào đó của bản thể mình chúng ta có
biết rằng thân thể và linh hồn là một.
Tuy nhiên, tri thức về tính một này làm nảy
sinh ra hai loại lỗi lầm. Một mặt có những người duy tâm, người nói rằng chỉ có
linh hồn và không có thân thể; và mặt khác, có những người duy vật như Charvaka
và Epicurus, người tuyên bố rằng chỉ có thân thể và không có linh hồn. Hai quan
niệm sai lầm này, mâu thuẫn lẫn nhau, đều phát sinh từ cùng một hiện thực sâu
sắc là thân thể và linh hồn là không tách rời.
Và như những người duy vật, mọi người thường -
người chúng ta nói là dốt nát - đều cho rằng mình chỉ là thân thể.
Nhưng khi cuộc hành trình nội tâm bắt đầu,
niềm tin rằng thân thể và linh hồn là một sẽ bị tan nát, và người ta sẽ đi tới
biết ra rằng chúng là tách biệt. Bởi vì ngay khi người ta biết rằng có linh
hồn, người đó cũng biết rằng thân thể là tách rời và linh hồn cũng tách rời.
Nhưng điều này xảy ra trong giai đoạn trung
gian của cuộc hành trình. Khi bạn đi sâu hơn và sâu hơn nữa, khi bạn đạt tới
kinh nghiệm tối thượng, bạn sẽ biết rằng chúng không tách rời. Chúng thực sự là
một và như nhau; chúng là các dạng khác nhau của cùng một thực tại.
Điều đó giống như tôi là một người với hai tay
- tay phải và tay trái. Nếu ai đó quan sát hai tay tôi từ bên ngoài và nói rằng
chúng là một và như nhau, thì người đó sai, bởi vì chúng là hai tay rõ ràng
tách rời lẫn nhau. Lại gần tôi hơn người đó sẽ biết rằng tay trái tôi là hoàn
toàn tách rời với tay phải. Có thể, tay trái tôi bị đau còn tay phải tôi không
đau. Có thể tay phải bị đứt rời còn tay trái thì vẫn tốt. Cho nên hai tay này
hiển nhiên không là một và không như nhau. Nhưng nếu ai đó đi vào lãnh thổ của
tôi người đó sẽ thấy rằng tôi là một người và cả hai tay đều là của tôi. Khi
tay trái bị gẫy thì chính tôi là người bị đau; và khi tay phải bị gẫy, lại
chính tôi là người chịu đựng. Và theo cùng cách này khi tay trái giơ lên, thì
chính tôi là người giơ nó lên, còn khi tay phải được giơ lên, lại chính là tôi
đang giơ nó lên.
Cho nên trong kinh nghiệm tối thượng thân thể
và linh hồn là không tách rời; chúng là hai mặt, như hai tay tôi, của cùng một
chân lí. Tôi đem ra tương tự này để cho bạn hiểu sự việc được rõ.
Thế thì cuộc hành trình có thể được bắt đầu từ
bất kì điểm nào trong hai điểm này - hoặc là từ thân thể hoặc là từ linh hồn.
Nếu ai đó bắt đầu nó với thân thể và cứ đi ngày một sâu hơn vào trong nó, người
đó chung cuộc sẽ đạt tới linh hồn. Điều đó cũng giống như ai đó cầm tay phải
của tôi và đưa lên; người đó sớm hay muộn sẽ đạt tới tay trái tôi. Tương tự ai
đó có thể bắt đầu trực tiếp bằng linh hồn và cuối cùng đạt tới thân thể.
Tuy nhiên rất khó bắt đầu bằng linh hồn. Nó
khó bởi vì linh hồn không được chúng ta biết tới. Vì chúng ta gần như tồn tại ở
bình diện vật lí, cuộc hành trình của chúng ta chỉ có thể bắt đầu với thân thể.
Tuy nhiên có những kĩ thuật trực tiếp bắt đầu với linh hồn; nhưng nói chung
chúng có ích chỉ cho rất ít người. Một trong hàng triệu người mới có thể dùng
những kĩ thuật bắt đầu với linh hồn. Tuyệt đại đa số mọi người sẽ phải bắt đầu
với thân thể. Cuộc hành trình của người ta chỉ có thể bắt đầu tại nơi họ đang
ở.
Và để bắt đầu cuộc hành trình với thân thể thì
kundalini bao hàm công việc chuẩn bị. Kundalini là chỗ cơ bản của những kinh
nghiệm sâu sắc nhất về thân thể.
Trong thực tế, thân thể không chỉ là điều
chúng ta biết nó đang là vậy, hay các nhà sinh lí học biết; nó còn nhiều hơn
thế nhiều. Chẳng hạn, cái quạt đang bật đây. Nếu chúng ta tháo chiếc quạt xuống
và dỡ nó ra thành từng phần để khảo cứu nó, chúng ta sẽ không bắt gặp điện ở
đâu cả. Và có thể, trên cơ sở của việc khảo cứu này một người rất thông minh
nói rằng không có những thứ như điện trong máy móc của quạt. Người đó sẽ không
bao giờ thấy nó ở bất kì phần nào của chính chiếc quạt. Vậy mà sự kiện là ở chỗ
khi quạt chuyển động, nó được điện làm cho quay. Và chiếc quạt sẽ dừng chuyển
động vào khoảnh khắc dòng điện dừng không tới nó nữa. Các nhà sinh lí học
nghiên cứu thân thể bằng việc giải phẫu nó và họ không tìm thấy kundalini ở đâu
cả. Họ sẽ không bao giờ tìm thấy được nó. Vậy mà toàn thể thân thể được điều
khiển bằng năng lượng điện chính là kundalini, tựa như quạt chạy bằng điện.
Năng lượng điện này của kundalini không thể được biết qua những phân tích được
thực hiện từ bên ngoài, bởi vì trong quá trình phân tích năng lượng tan rã và
biến mất. Nó chỉ có thể được biết tới qua việc kinh nghiệm bên trong về nó.
Có hai cách để biết thân thể. Các bạn có thể
biết nó từ bên ngoài như nhà sinh lí học làm bằng việc giải phẫu nó - đây là
một cách; và cách kia là biết nó từ bên trong nó. Người đi sâu vào bên trong nó
và sống ở đó thì biết nó từ bên trong.
Người ta bắt đầu biết thân thể mình từ bên
trong... Và nhớ lấy, chúng ta biết thân thể mình từ bên ngoài. Ngay cả thân thể
riêng của mình chúng ta cũng biết tới chỉ từ bên ngoài. Nếu tôi biết tay trái
tôi, tôi biết nó qua mắt đã thực sự thấy chúng. Cho nên tri thức của tôi về tay
trái tôi thực sự là tri thức của nhà sinh lí học. Nhưng nếu tôi nhắm mắt lại và
cảm thấy tay trái tôi, việc cảm bên trong này về nó sẽ là của riêng tôi. Cho
nên nếu ai đó đi tới biết thân thể mình từ bên trong, người đó sẽ sớm đạt tới
kunda, kho chứa, chính là cội nguồn của tất cả năng lượng thân thể của chúng
ta. Năng lượng nằm ngủ tại kunda này, tại bể này, được gọi là kundalini. Và thế
thì người đó sẽ biết cho chính mình rằng mọi thứ bắt nguồn từ đó và toả khắp
toàn bộ thân thể. Nó cũng giống như ngọn đèn cháy lên và chiếu sáng cả căn
phòng. Nếu bạn thám hiểm vào cội nguồn của ánh sáng đang tràn ngập toàn bộ căn
phòng, bạn sẽ đi tới chiếc đèn này và thấy rằng tất cả mọi tia sáng đều phát ra
từ ngọn lửa này. Thế thì bạn sẽ biết rằng mặc dầu các tia sáng đã đạt tới những
góc phòng ở xa, vậy mà chiếc đèn vẫn còn là cội nguồn của chúng.
Ở đây chúng ta quan tâm tới việc tìm kiếm điểm
đặc biệt đó mà từ đó sinh lực phát ra và tràn ngập toàn thể thân thể chúng ta.
Sinh lực phải có một trung tâm; không năng lượng nào có thể hiện hữu mà không
có cội nguồn. Mặc dầu mặt trời ở xa chúng ta một trăm triệu dặm, vậy mà chúng
ta vẫn có những tia sáng của nó chiếu tới mình; chúng ta có thể nói rằng phải
có một trung tâm, một cội nguồn từ đó chúng phát ra và tràn ngập trái đất.
Trong thực tế, không năng lượng nào có thể hiện hữu mà không có trung tâm; nếu
có năng lượng, nó phải có trung tâm. Làm sao có thể có vòng tròn, đường tròn,
mà không có trung tâm? Nơi có đường tròn chắc chắn cũng có trung tâm nữa.
Điều thân thể bạn là chùm năng lượng là hiển
nhiên; điều đó không cần chứng minh. Nó là đống năng lượng dâng lên và hạ
xuống, di chuyển và dừng lại và đi vào giấc ngủ. Và không phải là năng lượng
của nó bao giờ cũng vận hành một cách đều đặn; đôi khi nó tích cực và mạnh mẽ
và vào lúc khác nó lại vào trạng thái lờ phờ, suy nhược và trì trệ. Khi bạn
giận dữ bạn ném mạnh hòn đá lớn vào ai đó, hòn đá mà bạn khó có thể di chuyển
được trong trạng thái bình thường. Khi bạn đang rất hoảng sợ bạn chạy với tốc
độ mà vận động viên chạy phải thèm muốn trong các cuộc đua Olympic. Cho nên
năng lượng của bạn không phải bao giờ cũng trong cùng trạng thái; nó thăng
giáng theo hoàn cảnh bên trong và xung quanh bạn.
Do đó hiển nhiên là bạn có một loại kho dự
trữ, một nguồn, từ đó năng lượng đi vào trong hành động hay không đi vào hành
động. Nó đi vào trong hành động bất kì khi nào cần thiết; bằng không thì nó nằm
ngủ tại nguồn. Từ nguồn này bạn rút ra năng lượng trong cả hai hoàn cảnh bình
thường hay bất thường - trong nhu cầu hàng ngày của bạn và cả trong những
trường hợp khẩn cấp của bạn. Vậy mà kho dự trữ này chẳng bao giờ trống rỗng, nó
bao giờ cũng đầy; bạn không thể làm cạn kiệt nó được. Nó không bao giờ hết.
Điều thú vị là biết rằng chúng ta chẳng bao
giờ dùng hết kho năng lượng lớn này của mình. Những người đã thám hiểm lĩnh vực
này đều nói rằng ngay cả những người phi thường nhất, những người nổi tiếng là
các thiên tài, cũng không dùng quá mười lăm phần trăm năng lượng của mình. Ngay
cả những vĩ nhân của lịch sử - những người làm nên lịch sử - cũng không vượt
quá giới hạn mười lăm phần trăm này. Và khi có liên quan tới người thường,
người đó đi qua toàn bộ cuộc đời mình chỉ với hai tới hai phẩy năm phần trăm
của nó; chín mươi tám phần trăm năng lượng của người đó không được dùng tới.
Cho nên về mặt tiềm năng, theo quan điểm về
năng lượng mầm mống, không có khác biệt giữa người phi thường và người bình
thường. Khác biệt là dùng và không dùng năng lượng. Năng lượng mà người thiên
tài đã đưa vào sử dụng cũng hệt như người rất bình thường có mà không dùng nó.
Người thường là người không bao giờ tập trung năng lượng của mình vào hành
động; người đó không bao giờ huy động nó, đem nó ra đương đầu với thách thức.
Người đó thoả mãn với cái nhỏ bé mình có trên bề mặt, điều người đó nghĩ là cái
tối đa của mình. Người đó làm với cái tối thiểu của mình và bỏ lại tiềm năng
bao la không được động tới. Và đó là lí do tại sao trong khoảnh khắc của khủng
hoảng, thậm chí người bình thường nhất cũng thể hiện sức mạnh và khả năng phi
thường. Cho nên chỉ trong khoảnh khắc khủng khoảng chúng ta mới đi tới biết
tiềm năng bên trong của mình là gì.
Có một trung tâm trong từng người chúng ta nơi
toàn thể năng lượng này cư ngụ - ẩn kín và ngủ. Người ta phải nói rằng nó nằm
đó dưới dạng hạt mầm – đóng kín và tiềm tàng; nhưng nó có thể trở thành biểu
lộ. Và nó được gọi là kunda, cái bể, hay kho dự trữ.
Từ "kunda" rất có ý nghĩa; nó có
nhiều nghĩa. Một nghĩa là ở chỗ nó là cái bể tĩnh lặng và thanh bình không gợn
sóng. Nếu cho dù một gợn sóng có đó thôi, điều đó sẽ có nghĩa là năng lượng này
trở nên tích cực. Kunda nghĩa là nội dung của nó, năng lượng của nó, không có
chuyển động nào; nó hoàn toàn thụ động, bình thản và nghỉ ngơi. Và nghĩa khác
là ở chỗ mặc dầu nó thụ động và ngủ, bất kì khoảng khắc nào nó cũng đều có thể
trở thành tỉnh táo, tích cực và chuyển động. Nó không phải là cái bể khô và
chết; nó tràn đầy ăm ắp. Và bất kì khoảnh khắc nào nó cũng đều có thể trở thành
tích cực, năng động; mặc dầu ngay bây giờ nó ở trong trạng thái thụ động, đang
ngủ.
Điều đó có thể là lí do tại sao chúng ta không
biết cái gì đang ngủ bên trong mình. Chúng ta chỉ có thể biết khi nó trở nên
thức dậy và tích cực, chỉ phần tích cực của năng lượng này đi vào ý thức của
các bạn, còn phần thụ động của nó vẫn nằm ngủ trong vô thức của các bạn. Đó là
lí do tại sao ngay cả những người vĩ đại nhất, chừng nào họ còn chưa đạt tới
tính vĩ đại, vẫn còn không nhận biết về năng lượng này. Mahavira, Phật, Krishna
và Jesus, không ai trong số họ đã nhận biết về tiềm năng của mình khi họ chưa
hiện thực hoá nó, khi họ chưa đạt tới chiều cao của tính vĩ đại của họ.
Đó là lí do tại sao khi biến cố về việc thức
tỉnh xảy ra một cách vô nỗ lực, người thức tỉnh đi tới tin rằng đó là món quà
của ân huệ từ điều không biết. Họ tự hỏi làm sao và khi nào món quà này tới họ.
Và do vậy họ cảm thấy rằng nó tới từ bất kì ai ở gần họ nhất. Nếu thầy là người
gần gũi nhất, họ sẽ nói nó là món quà từ thầy.
Còn nếu đối tượng gần gũi nhất là một thần
tượng về Thượng đế, và không phải là thầy, họ sẽ qui tất cả mọi công lao cho
chính thần tượng đó. Bất kì cái gì đi ngay trước biến cố này - một Phật, hay
Thượng đế trên trời - sẽ được lấy làm cội nguồn. Nhưng sự kiện là ở chỗ nó bao giờ
cũng tới từ chính cội nguồn bên trong riêng của họ. Nhưng bởi vì không nhận
biết quá khứ của mình mà họ qui cho tác nhân bên ngoài nào đó như thầy hay
Thượng đế, điều xảy ra gần nhất với biến cố đó.
Tôi tình cờ hôm vừa rồi mới đọc một câu
chuyện. Hai nông dân lên tàu hoả lần đầu tiên. Họ là cư dân của một làng vùng
núi non và họ được sinh ra vào cùng ngày. Cho nên khi ngày sinh của họ tới, mọi
người trong làng nghĩ tới việc cho họ món quà sinh nhật nào đó. Và khi đường
ray tàu hoả vừa mới được dẫn tới phần quê của họ, thì không thể có món quà nào
tốt hơn là một chuyến đi tàu hoả cho họ. Cho nên các nông dân này nhận được hai
vé tàu hoả từ làng mình, và bắt đầu đi du lịch lần đầu tiên bằng tàu hoả.
Vì đó là kinh nghiệm hoàn toàn mới đối với họ,
họ kích động và tò mò về mọi điều xảy ra trên đường của mình. Một người bán
nước ngọt ngẫu nhiên đi ngang qua và họ quyết định mua một chai nước ngọt và
nếm thử nó. Họ đã quyết định cùng uống chai nước ngọt và nếu họ thấy ngon, thì
họ sẽ mua cho mình chai nữa.
Mua xong chai nước, một người trong số họ bắt
đầu uống phần của mình. Khi anh ta uống được nửa chừng thì tàu hoả đi vào đường
hầm. Vào lúc này anh bạn anh ta trở nên lo âu về phần nước của mình và anh ta
bảo người kia đừng có uống hết. Bạn anh ta nói, "Vì Thượng đế, xin anh
đừng chạm vào nó; nó là chất độc đấy! Tôi đã bị nó làm cho mù đây này!"
Khi tàu hoả đi vào đường hầm, trời trở nên tối
mò khắp xung quanh và người nông dân này nghĩ rằng nước uống đã làm cho anh ta
bị mù. Cho nên biến cố gần nhất - việc uống - đã được coi là nguyên nhân cho sự
mù. Điều đó là tự nhiên. Cái gì đi ngay trước một biến cố đều được lấy làm
nguyên nhân cho nó.
Tương tự vậy, chúng ta không biết nguồn gốc
thực của năng lượng của mình. Và chừng nào còn chưa được thức tỉnh, thì không
có cách nào để biết được nó. Và chúng ta không nhận biết liệu nó có thể sẵn có
cho chúng ta không, và bằng cách nào nó có thể có sẵn được.
Phần thức tỉnh của năng lượng ngủ này, kunda,
được gọi là kundalini. Bản thân kunda là vô ý thức, nó ngủ; nhưng kundalini là
ý thức và thức tỉnh. Chỉ phần của năng lượng này thức dậy và đi ra khỏi kunda
mới được biết là kundalini. Kundalini không phải là toàn thể nó; đấy chỉ là con
sóng nảy sinh ra từ bể này.
Cho nên cuộc hành trình này là việc thám hiểm
hai phần. Kundalini, năng lượng thức tỉnh, đưa bạn tới những cái mới có cội
nguồn rất lớn ẩn bên trong bạn với những khả năng mênh mông. Một tia sáng mặt
trời mở ra khả năng cho vô hạn tia sáng tới trong sự thức dậy của nó. Cho nên
một phần nằm ở việc thức tỉnh kundalini điều sẽ làm cho bạn nhận biết hoàn toàn
về quyền năng của thân thể bạn. Và qua việc thức tỉnh của năng lượng này các
bạn sẽ đi tới những trung tâm đó, những cánh cửa đó của thân thể bạn, từ đó
việc đi sang đầu vô hình của thân thể, điều chúng ta gọi là linh hồn, trở thành
dễ dàng.
Cần phải hiểu điều này một cách rõ ràng và đầy
đủ, bởi vì bất kì điều gì chúng ta làm, thực sự đấy chính là năng lượng của
chúng ta làm nó thông qua lối mở hay trung tâm nào đó. Chẳng hạn, tai chúng ta
là một lối mở như vậy, qua đó chúng ta nghe được. Nếu tai bạn bị bệnh, bạn sẽ
không có khả năng nghe thấy gì, bởi vì năng lượng này sẽ bị chặn lại không tới
được tai, và nó sẽ quay ngược trở về nguồn của nó. Và dần dần năng lượng này sẽ
dừng đi vào tai, bởi vì nó chỉ di chuyển tới nơi nó có cơ hội trở thành tích
cực. Cho nên năng lượng này sẽ không còn chuyển tới tai nữa.
Mâu thuẫn có thể xảy ra nữa. Nếu một người bị
điếc và người đó rất muốn nghe từ ngón tay của mình, thì có thể là ngón tay
người đó sẽ bắt đầu nghe thấy. Có những người hiện diện trên trái đất này nghe
qua các cơ quan thân thể không là tai. Và có những người nhìn thấy được qua các
cơ quan khác mắt. Thực sự đó là cái gì mà bạn gọi là mắt?
Nó không là gì ngoài một phần của da bạn, với
khác biệt này - rằng từ thời xa xưa con người đã dùng phần đặc biệt này của da
của mình cho ý định nhìn. Chắc phải là ngẫu nhiên mà con người đầu tiên đã dùng
phần đó của thân thể mình cho ý định này; người ta cũng có thể đã dùng bất kì
phần nào khác cho việc đó. Các sinh linh khác thực sự dùng các phần khác và hệ
quả là mắt chúng xuất hiện ở các phần khác nhau của thân thể chúng. Có con vật
và chim chóc và sâu bọ đã phát triển hai bộ mắt - một bộ là mắt thực và bộ kia
là mắt giả. Khi chúng nhìn bằng mắt thực của mình, chúng dùng mắt giả để lừa kẻ
thù. Trong trường hợp kẻ thù làm thương tổn mắt chúng, mắt thật của chúng được
cứu. Một con ruồi rất bình thường trong nhà bạn có một nghìn con mắt; một con
mắt của nó thực sự là tuyển tập của một nghìn mắt. Đó là lí do tại sao khả năng
thấy của ruồi khổng lồ và đáng ngạc nhiên. Một số cá thấy được cả đuôi của
chúng, bởi vì chúng sợ kẻ thù đánh chúng từ đằng sau.
Nếu chúng ta làm một khảo cứu về mắt của tất
cả các sinh linh trên thế giới, chúng ta sẽ biết rằng không nhất thiết là mắt
phải ở nơi chúng hiện đang ở. Tương tự, không có nghĩa đặc biệt nào trong việc
có tai của chúng ta theo cách chúng hiện hữu. Chúng thực sự có thể ở bất kì chỗ
nào. Vị trí của mắt và tai người là kết quả của việc lặp lại vô số lần các hành
động thấy và nghe từ cùng một chỗ. Và hệ quả là kí ức của chúng đã được khắc
hoạ và cố định sâu sắc nhất vào tâm thức chúng ta. Cho nên chúng được lặp lại
một cách máy móc và dễ dàng.
Ngay cả một trong nhiều giác quan chúng ta có
mà mất đi, chúng ta sẽ mất phần đó của thế giới vẫn được làm có sẵn cho chúng
ta qua nó. Nếu chúng ta mất mắt, thế giới của ánh sáng sẽ bị mất đối với chúng
ta; chúng ta sẽ dừng kinh nghiệm ánh sáng. Thế thì chúng ta sẽ không biết ánh
sáng cho dù chúng ta có tai và tay và các giác quan khác tốt.
Cho nên khi kundalini bắt đầu thức dậy và dâng
lên, nó sẽ gõ vào những cánh cửa mới của thân thể bạn, không phải thông thường
chút nào. Qua những giác quan phi thường này - sau khi chúng được kích thích
bởi năng lượng của kundalini - bạn bắt đầu biết những điều mà bạn không thể biết
được qua các giác quan thông thường. Nói một cách đúng đắn, kundalini bắt đầu
điểm và đánh thức các giác quan bên trong của bạn. Ngay cả bây giờ cũng là qua
năng lượng này của kundalini mà mắt và tai và các giác quan bình thường khác
của bạn hoạt động. Nhưng đây là các cơ quan ngoài cần một khối lượng năng lượng
kundalini rất nhỏ để làm việc. Tăng thêm chút ít về khối lượng này, và bạn sẽ
có năng lượng phụ dùng để kích hoạt các trung tâm khác nữa.
Chẳng hạn, nếu chúng ta rót một ít nước lên
sàn ở đây, nó sẽ tạo thành một kênh chảy nhỏ, để lại một vệt đằng sau nó để
nhiều nước hơn chảy theo. Nhưng nếu khối lượng nước đổ ra tăng lên thật lớn, nó
sẽ phá ra thành nhiều kênh mới, bởi vì kênh cũ không thể một mình nó chứa đựng
được tất cả nước.
Theo nghĩa vật lí sâu sắc hơn, thức tỉnh của
kundalini nghĩa là bạn có nhiều năng lượng trong mình tới mức các kênh cũ của
bạn không có khả năng chứa nó, và do vậy nó tìm kiếm không cưỡng lại được những
đại lộ mới và cửa mới. Kết quả là nhiều giác quan mới và tinh tế bên trong bạn
sẽ trở nên thức dậy và hoạt động. Những trung tâm ngoại cảm này sẽ làm cho các
bạn thành có khả năng ngoại cảm và thấu thị; các bạn sẽ bắt đầu thấy và nghe
được những điều ở bên ngoài tầm của mắt và tai bình thường của mình. Các bạn sẽ
kinh nghiệm những điều nào đó mà các giác quan thông thường của bạn chẳng có
liên quan chút nào. Các giác quan mới này sẽ trở thành tích cực bên trong bạn.
Và kết quả sâu lắng nhất của việc tăng cường các giác quan mới này sẽ là ở chỗ
các bạn sẽ bắt đầu biết tới thế giới vô hình nằm ẩn kín trong thân thể mình,
vốn là phần tinh tế nhất và không thể nhận thấy được của thân thể bạn, và là
điều chúng ta gọi là atman hay linh hồn. Cho nên với việc thức tỉnh của
kundalini các khả năng cho trưởng thành của bạn sẽ được nâng cao lên rất nhiều.
Nhưng công việc phải bắt đầu với thân thể.
Có cách khác nữa mà tôi đã loại ra ngoài từ
trước tới nay. Tôi đã giải thích cho tới nay cho các bạn điều nói chúng cần
phải được làm để đánh thức kundalini; nhưng kundalini không phải là toàn thể
kunda hay bể. Còn có cách khác mà tôi có thể phải nói với các bạn một cách tách
biệt. Rất ít người trên thế giới đã lấy con đường này. Đấy không phải là con
đường thức tỉnh kundalini chúng ta đã quen thuộc, mà là được hội nhập vào trong
chính kunda. Điều đó không giống như việc đánh thức một phần nhỏ của năng lượng
này và dùng nó cho sự phát triển; đó là vấn đề hội nhập toàn thể tâm thức chúng
ta vào trong kunda hay bể năng lượng nguyên thuỷ. Trong biến cố đó sẽ không có
kinh nghiệm ngoại cảm nào cả, và ngay cả kinh nghiệm về linh hồn cũng bị mất đi
hoàn toàn. Trong biến cố đó, người ta sẽ đương đầu trực tiếp và kinh nghiệm
Thượng đế, điều tối cao.
Qua việc đánh thức kundalini, kinh nghiệm đầu
tiên tới trên con đường của bạn là về linh hồn. Với nó, các bạn nhận ra rằng
linh hồn mình là tách biệt với linh hồn của những người khác. Những người đã
đạt tới bằng việc thức tỉnh kundalini thường tin vào sự tồn tại của nhiều linh
hồn. Họ nói rằng có nhiều linh hồn như có bấy nhiêu người đang sống trên trái
đất, rằng mọi người đều có linh hồn tách biệt. Nhưng những người đã hội nhập
bản thân mình trực tiếp vào trong kunda nói rằng không có linh hồn, chỉ có
Thượng đế; không có gì ngoài Thượng đế. Họ nói chỉ có một, không có nhiều. Bởi
vì bằng việc nhận chìm bản thân mình vào trong kunda, bạn không chỉ hội nhập
với kunda riêng của mình, mà còn hội nhập với kunda của tất cả, kunda tập thể,
kunda vũ trụ. Kunda là một. Không phải kunda của tôi và kunda của bạn và kunda
của anh ấy là những thực thể tách biệt; nó là một và như nhau.
Đó là lí do tại sao năng lượng của kunda mênh
mông và vô hạn. Bạn có rút ra từ nó bao nhiêu năng lượng cũng chẳng thành vấn
đề, bạn không thể làm giảm nội dung của nó cho dù chỉ là một giọt; nó cứ còn
đầy tràn và toàn thể. Bạn có thể rút ra bất kì lượng năng lượng nào cho việc
chi dùng của mình, điều đó chẳng tạo ra khác biệt gì trong nội dung của nó; nó
bao giờ cũng đầy và không hề cạn. Nhưng cái chúng ta rút ra từ nó chúng ta có
khuynh hướng gọi là của riêng mình. Điều đó cũng giống như lấy nước từ đại
dương và cất nó vào bình nhỏ tách biệt của chúng ta. Và chúng ta nghĩ rằng nội
dung của bình chứa của chúng ta là khác với bình chứa của người khác. Nhưng nếu
ai đó hội nhập bản thân mình với toàn thể biển cả, người đó sẽ nói rằng biển là
một, rằng nước trong các bình khác nhau đều là một phần của cùng một biển, và
nó sẽ trở lại cội nguồn của nó lần nữa. Bạn không thể giữ nó tách rời khỏi biển
lâu được. Chẳng mấy chốc nước trong bình sẽ bay hơi trong nhiệt của mặt trời,
thế rồi biến thành mây, và trở lại biển dưới dạng mưa. Thực sự nó đã không bị
tách rời khỏi cội nguồn của nó, nó không thể thế được.
Những người tìm kiếm làm việc qua đánh thức
kundalini đều có kinh nghiệm ngoại cảm, vốn là những kinh nghiệm thực sự phi
thường và duy nhất. Chúng thực sự là phiêu diêu. Và những người này đi tới nhận
ra linh hồn chỉ là một phần của Thượng đế, hay điều tối cao. Do vậy họ cố gắng
nhận ra cái toàn thể qua bộ phận của nó. Điều đó giống như những người khác
nhau chạm tới đại dương mênh mông từ những bến bờ khác nhau và xa cách của nó.
Tôi có thể chạm tới cùng đại dương từ bờ này; các bạn nữa, có thể chạm tới từ
bờ khác xa bờ của tôi hàng triệu dặm. Nhưng làm sao tôi có thể tin được rằng
bạn đã đạt tới cùng biển cả như tôi đã đạt tới? Tôi đang chạm tới một bờ của nó
mà tôi nghĩ là của tôi - một đại dương tách biệt - còn bạn đang chạm tới một bờ
khác mà bạn nghĩ là của bạn - một đại dương tách biệt. Điều đó cũng giống như
tôi coi Ấn Độ dương là của tôi, bạn coi Đại Tây dương là của bạn, và người thứ
ba coi Thái Bình dương là của người đó.
Nhưng trong thực tế tất cả mọi đại dương đều
được thống nhất và là một. Đó thực sự là một đại dương toàn cầu bao la. Nhưng
khó mà biết được nó chừng nào chúng ta còn tiếp cận tới nó một cách manh mún;
thế thì chúng ta sẽ không biết một đại dương bao la. Thay vì thế, chúng ta sẽ
chia rẽ và phân ranh giới nó theo cái nhìn giới hạn của mình về nó. Không chỉ
đại dương đâu, chúng ta sẽ phân chia cả bờ nữa.
Cho nên kinh nghiệm về linh hồn cũng tựa như
việc chạm vào đại dương từ một góc đặc biệt của nó. Và điều này có thể tới bằng
việc đánh thức chỉ một chút ít năng lượng bao la này. Do đó việc trở thành cần
thiết cho người tìm kiếm đã đạt tới trên con đường này là phải được chuẩn bị để
làm mất linh hồn nữa, để siêu việt lên trên nó và vượt ra ngoài. Bằng không thì
cuộc hành trình này sẽ bị cản trở, bởi vì nó vẫn chưa đầy đủ. Nhận ra linh hồn
không phải là cái toàn thể của nó; người đó sẽ phải làm mất cả linh hồn nữa, và
lấy cú nhảy vào trong kunda. Nhưng thế thì điều đó trở thành dễ dàng; nó dễ
dàng hơn.
Nhiều lần đường dài chứng tỏ là đường dễ dàng
hơn, còn đường tắt hoá ra khó nhất. Và có lí do cho điều đó, và toàn lí do
chính đáng cả. Đường dài bao giờ cũng là con đường dễ dàng hơn. Bây giờ, nếu
tôi phải tới gần bản thân mình hơn thì tôi sẽ phải làm như vậy qua trung gian
của người khác. Nếu tôi muốn thấy hình ảnh riêng của mình thì sẽ cần phải có sự
giúp đỡ của tấm gương. Dường như đấy là con đường dài và ngoằn ngoèo không cần
thiết, vì hình ảnh của tôi đi vào trong gương và thế rồi trở lại tôi dưới dạng
phản xạ của nó, cho nên tôi có thể thấy khuôn mặt riêng của mình. "Sao đi
đường vòng dài thế?" người ta có thể hỏi. Nhưng không có cách khác hơn thế
này.
Mặc dầu khuôn mặt của tôi là gần tôi nhất, vậy
mà với cùng lí do này việc nhìn trực tiếp vào nó là điều khó nhất.
Cho nên trong khi con đường của thức tỉnh một
phần của năng lượng kundalini chắc chắn tạo ra con đường dài, điều đó gần như
không tránh khỏi. Đó là cách toàn thể thế giới các giác quan bên trong mở ra và
chúng ta đạt tới cái ta, hay linh hồn. Và từ đó bước nhảy lượng tử trở thành
điều cần phải có. Thực sự chính con đường vòng dài này làm cho bước nhảy lượng
tử được trơn tru và dễ dàng. Bởi vì chính sau đó mà phúc lạc của việc tự hiểu
ra - điều tới qua việc biết về chính mình - bắt đầu mời chào và thôi thúc người
ta phấn đấu cho cái cao nhất của phúc lạc.
Chắc chắn có phúc lạc trong việc biết và hiểu
bản thân mình, nhưng phúc lạc của việc làm mất bản thân mình là cao nhất. Nó là
phúc lạc tối cao. Sau khi bạn đã biết tới bản thân mình, chỉ còn lại một loại
đau: đó là đau của cái ta, đau của việc biết rằng bạn hiện hữu. Với việc đạt
tới cái ta thì tri thức về tất cả mọi nỗi đau sẽ biến mất, nhưng một nỗi đau sẽ
vẫn còn theo đuổi bạn; và đó là nỗi đau của việc hiện hữu. Bây giờ bạn sẽ tự
hỏi mình: "Sao lại thế này, sự hiện hữu của mình?" Bây giờ bạn biết
rằng hiện hữu cũng là không cần thiết và đau đớn. Và thế rồi bạn sẽ lấy bước
nhảy từ hiện hữu vào vô hiện hữu. Một ngày nào đó bạn sẽ nói: "Bởi vì tôi
đã biết hiện hữu nên tôi muốn biết cả vô hiện hữu nữa. Bởi vì tôi đã biết ánh
sáng, tôi muốn biết cả bóng tối nữa."
Dù ánh sáng có bao la thế nào, nó vẫn có giới
hạn của nó; nhưng bóng tối là vô giới hạn. Hiện hữu chắc chắn có ý nghĩa lớn
lao, vậy mà nó vẫn bị giới hạn; vô hiện hữu là vô hạn vô cùng.
Mọi người không hiểu Phật bởi chính lí do này.
Khi ai đó hỏi ông ấy, "Tôi sẽ vẫn sống ở đó trong moksha hay tự do
chứ?" ông ấy nói, "Không, ông sẽ không sống sót đâu; chính ông mới
thực sự được tự do khỏi bản thân mình." Thế rồi người đó hỏi thêm,
"Cứ giả dụ là trong moksha mọi thứ khác đều sẽ ra đi - ham muốn, đau khổ
và tội lỗi sẽ ra đi; nhưng thế còn hiện hữu của tôi thì sao? Tôi sẽ không sống
trong dạng nguyên thuỷ của mình chứ?" Với điều này Phật nói, "Làm sao
ông có thể sống được? Sau khi các ham muốn, đau đớn và tội lỗi đã biến mất, một
đau đớn sẽ vẫn còn lại - đau của sự hiện hữu. Thế thì chính sự hiện hữu của ông
sẽ bắt đầu làm đau ông."
Điều thú vị là biết rằng sau khi dừng các ham
muốn lại, chính sự hiện hữu của bạn bắt đầu làm phiền bạn, làm đau bạn. Chừng
nào bạn còn ham muốn, hiện hữu dường như không gây ra cảm giác khó chịu nào, vì
bạn giữ cho sự hiện hữu của mình bị bận rộn với cái gì đó này khác. Nếu các bạn
theo đuổi tiền bạc, sự hiện hữu của bạn bị bận rộn với việc làm tiền. Và nếu
bạn muốn uy tín và danh vọng, sự hiện hữu của bạn bị bận rộn với việc kiếm uy
tín và danh vọng cho bạn. Nhưng bạn sẽ làm gì với sự hiện hữu của mình khi ham
muốn của bạn về tiền đã từ bỏ bạn, khi bạn sẽ dừng ao ước địa vị và tiếng tăm,
khi ngay cả ham muốn dục cũng mất đi, và bạn sẽ bị bỏ lại chẳng có cái gì để
làm, khi bản thân việc làm sẽ dừng lại? Thế thì lúc đó sự hiện hữu của bạn sẽ
bắt đầu chì chiết bạn trực tiếp. Thế thì sự hiện hữu sẽ quấy rối bạn và bạn sẽ
đi tới cảm nhận rằng bạn không cần nó. Chính vì tình huống này mà Phật nói,
"Không, sẽ không có gì còn lại cả. Sau việc tắt của ngọn đèn, ngọn lửa đi
đâu?"
Mãi cho tới thời ông ấy chết mọi người vẫn
liên tục hỏi Phật, "Điều gì xảy ra cho tathagata sau cái chết của ông ấy?
Điều gì sẽ xảy ra sau khi thầy sẽ chết?" Và Phật bao giờ cũng nói,
"Cái gì có đó để xảy ra sau khi ta không còn nữa? Chẳng cái gì còn lại cả;
giống như ngọn đèn tàn lụi đi, mọi thứ sẽ tàn lụi đi. Các ông đừng bao giờ hỏi
điều gì xảy ra cho ngọn lửa sau khi ngọn đèn tàn lụi đi. Khi ngọn lửa mất rồi,
thì nó mất rồi."
Cho nên việc đạt tới linh hồn chỉ là một giai
đoạn trong việc chuẩn bị để làm mất đi linh hồn. Chúng ta thu được nó chỉ để
làm mất nó lúc chung cuộc. Nhưng điều đó còn dễ dàng hơn nữa. Bởi vì nếu bạn
hỏi trực tiếp một người mà ham muốn của người này vẫn còn sống động trong việc
tự chìm mình vào trong kunda, làm mất bản thân mình hoàn toàn, thì người đó
không thể làm được như vậy; người đó sẽ nói điều đó là không thể được. Người đó
sẽ nói rằng vì người đó có nhiều điều quan trọng cần làm, người đó không thể
đảm đương được việc làm mất bản thân mình.
Tại sao chúng ta sợ làm mất bản thân mình thế?
Chúng ta sợ bởi vì bao giờ cũng có nhiều điều cần được làm đến mức nếu chúng ta
làm mất bản thân mình, mọi sự sẽ vẫn còn không được làm, không đầy đủ. Chẳng
hạn, tôi phải xây cho mình ngôi nhà mà vẫn chưa xong, và tôi nghĩ tôi sẽ sẵn
sàng làm mất bản thân mình sau khi hoàn thành cái nhà này. Và đến lúc ngôi nhà
này được hoàn thành, một số dự án và công việc chưa hoàn thành khác sẽ bộc lộ
chúng ra. Ham muốn làm thực sự là ham muốn hoàn thành cái gì đó, và đó là điều
thúc giục chúng ta làm tiếp. Do đó chừng nào mà ham muốn của người ta còn có
đó, thì không thể nào đánh mất linh hồn của người ta được, mặc dầu việc đánh
mất linh hồn người ta là cách trực tiếp tạo ra con đường ngắn nhất. Làm sao
người đó, người có ham muốn còn nguyên vẹn có thể đánh mất được linh hồn của
mình? Tất nhiên, nếu ham muốn của người đó biến mất, người đó có thể sẵn sàng
đánh mất linh hồn nữa; bởi vì bây giờ người đó sẽ không ích gì cho linh hồn.
Chẳng hạn, nếu bạn yêu cầu ai đó có khổ sở vẫn
đang tiếp diễn bỏ phúc lạc của mình đi, người đó sẽ nói bạn đơn giản điên.
Nhưng nếu khổ của người đó bỏ người đó và người đó được bỏ lại với phúc lạc một
mình, thế thì người đó có thể chuẩn bị cho mình để từ bỏ cả phúc lạc nữa. Với
ham muốn mất đi, người đó sẽ làm gì với phúc lạc? Và biến cố lớn lao xảy ra chỉ
khi người ta sẵn sàng từ bỏ cả phúc lạc nữa. Bất kì ai cũng đều sẵn sàng từ bỏ
nỗi buồn; nhưng một thời điểm sẽ tới trong các kiếp sống của chúng ta khi chúng
ta được chẩn bị để sẵn lòng từ bỏ bản thân phúc lạc nữa. Và đó là điều đưa tới
sự tan biến của người ta và thống nhất với sự hiện hữu tối cao.
Điều này có thể xảy ra trực tiếp nữa; người ta
có thể đi vào kunda trong một thoáng lướt nhanh. Tuy nhiên rất khó để tự chuẩn
bị cho điều đó ngay một lúc; việc chuẩn bị dần dần do đó là con đường dễ dàng
hơn.
Khi việc ham muốn biến mất, khi tâm trí dừng
lại, khi việc làm đi tới chấm dứt, khi tất cả mọi đồ dùng sân khấu của bạn mà
bạn đã sống với chúng rơi rụng đi, thế thì đến cuối chỉ bạn còn lại không có cơ
sở gì, không có hỗ trợ gì. Chỉ thế thì bạn mới tự nói với mình, "Bây giờ
chẳng ích gì mà cứu lấy cái ta này; bây giờ mình có thể buông bỏ cả nó
nữa." Thế thì bạn tự nhấn chìm mình vào trong kunda và hội nhập với nó.
Việc hội nhập này với kunda được gọi là niết bàn, hay tự do.
Nếu người nào đó muốn nhảy trực tiếp vào trong
kunda, thì kundalini không tới trên con đường của người đó. Đó là lí do tại sao
một số con đường tâm linh không nói về kundalini; bởi vì điều đó là không cần
thiết. Những người được dạy hội nhập trực tiếp vào kunda cho rằng không cần
thiết phải nói tới kĩ thuật đánh thức kundalini. Nhưng kinh nghiệm của riêng
tôi nói rằng những con đường trực tiếp không thể có tác dụng. Chúng có thể có
tác dụng cho một hay hai cá nhân hiếm hoi, nhưng điều đó chẳng thành vấn đề gì
mấy. Một bông hoa không tạo ra mùa xuân. Do đó, người ta phải trải qua con
đường dài hơn.
Nhiều lần người ta phải gõ vào cửa của nhiều
nhà khác để về tới nhà riêng của mình. Chỉ để về tới ngôi nhà riêng của mình,
bạn có thể trước hết phải đi qua nhà của những người khác. Để biết khuôn mặt
riêng của mình bạn có thể trước hết phải biết nhiều khuôn mặt khác. Và trước
khi bạn đi tới yêu mến bản thân mình bạn phải yêu nhiều người khác. Yêu bản
thân mình dường như đơn giản thế. Khó khăn gì có đó trong việc yêu bản thân
mình? Ai ngăn cản bạn trong việc yêu bản thân mình? Quyền duy nhất là bạn phải
về thẳng nhà. Nhưng thực tế điều đó không xảy ra theo cách đó. Trong thực tế,
rất khó tìm ra ngôi nhà riêng của người ta trước khi người ta đã tới thăm nhiều
nhà của những người khác. Và chừng nào người ta còn chưa cầu xin tình yêu của
người khác và chưa trao tình yêu của riêng mình cho họ, người ta còn chưa đi
tới biết rằng câu hỏi thực là việc yêu mến bản mình.
Về kundalini tôi nói rằng nó là sự chuẩn bị
của thân thể; nó thực sự là việc chuẩn bị để đi vào vô thân thể, để đi vào tâm
linh, linh hồn. Và bạn không thể đi vào linh hồn với khối lượng năng lượng hiện
đang sẵn có cho bạn, bởi vì nó chỉ đủ đưa bạn qua những việc vặt hàng ngày của
cuộc sống. Trong thực tế nó còn không đủ cho cả điều này nữa; nó đạm bạc tới
mức đến cuối ngày bạn cảm thấy gần như kiệt sức. Năng lượng sẵn có không đủ
ngay cả cho nhu cầu hàng ngày của chúng ta; việc cung cấp của nó nghèo nàn thế.
Cho nên với năng lượng đạm bạc này bạn không thể đạt tới linh hồn được; vấn đề
này đơn giản không nảy sinh.
Chính bởi lí do này mà khái niệm về sannyas
mới đi vào hiện hữu. Nó đi vào hiện hữu với quan điểm để bảo tồn năng lượng của
bạn bằng việc giải phóng chúng ta khỏi các hoạt động gia đình, bởi vì chúng ta
có khối lượng năng lượng rất hạn chế trong tay. Năng lượng này phải được chuyển
kênh sang hướng khác nào đó; nó phải được dùng cho ý định cao hơn nào đó. Cho
nên những người tìm kiếm đã hô hào đóng các cửa hàng và trốn khỏi bãi chợ, trốn
khỏi thế giới.
Với tôi, thái độ này là sai lầm. Năng lượng ít
ỏi mà chúng ta chi dùng trong cuộc sống hàng ngày của mình không đáng tiết
kiệm, bởi vì chúng ta sẽ phải chi dùng nhiều năng lượng trong việc tiết kiệm
nó. Ngay cả để tiết kiệm năng lượng, người ta cũng phải chi dùng năng lượng.
Nhiều lần, bạn không dùng nhiều năng lượng để diễn đạt giận dữ như bạn làm
trong việc kìm nén nó. Đôi khi bạn phải dùng nhiều năng lượng để tránh đánh
nhau hơn là bạn đã dùng trong chính việc đánh nhau. Cho nên tôi không coi nó là
cách đúng; nó là cách thức của kẻ keo kiệt.
Đây là tính chất sannyas sao? Đó là cách thức
của những người keo kiệt - tiết kiệm chút ít từ điều chúng ta có, mà bản thân
nó quá nghèo nàn. Cách tiếp cận keo kiệt này chẳng ích lợi gì. Thay vì tiết
kiệm chút ít năng lượng tại đây và chút ít tại kia, chúng ta nên đánh thức
nhiều năng lượng đang ngủ - cái tràn đầy, cái vô hạn.
Tại sao tiết kiệm năng lượng? Đánh thức nó
ngày một nhiều hơn đi. Nếu bạn phải dùng nhiều năng lượng hơn, rút nó từ bản
thân kho dự trữ, cái vô giới hạn. Bạn có nhiều đến mức bạn không thể dùng được
tất cả nó cho dù bạn muốn dùng; cho nên sao bận tâm tới việc tiết kiệm nó?
Bây giờ một người sợ rằng nếu người đó yêu vợ
mình thì người đó không thể yêu được Thượng đế; bởi vì người đó nghĩ rằng chút
ít năng lượng mà người đó có sẽ bị dùng hết trong việc yêu vợ mình. Cho nên
người đó quyết định tiết kiệm nó bằng việc chạy xa vợ mình. Nhưng để tiết kiệm
năng lượng người đó sẽ phải tranh đấu với bản thân mình, điều này làm tốn năng
lượng của người đó. Bên cạnh đó, bạn có thể đạt tới Thượng đế bằng chút ít năng
lượng mà bạn dùng để yêu vợ mình được không? Nó hiếm tới mức nó thực sự không
thể đưa bạn ngay cả tới với vợ bạn, cứ gạt riêng mình Thượng đế ra. Nó không
bao giờ có thể đưa bạn tới Thượng đế được.
Tôi muốn nói rằng điều đó là cực kì điên khùng
về phần bạn - nghĩ tới việc xây cây cầu giữa bạn và cái vô hạn bằng khối lượng
năng lượng nhỏ mọn chẳng đủ để bắc cầu cho bạn tới với người yêu của mình. Bạn
cũng nhận biết về tính không thích hợp hoàn toàn của nó ngay cả trong các quan
hệ nhỏ mọn của mình. Thời gian qua đi và nó làm phai dần bạn, ngay cả trong nỗ
lực của bạn để đạt tới trái tim người yêu của mình.
Cho nên vấn đề không phải là tiết kiệm năng
lượng; vấn đề là đánh thức năng lượng lớn đang nằm ngủ bên trong bạn. Và năng
lượng này là vô hạn không tính nổi, nó đơn giản không bao giờ cạn kiệt. Và một
khi nó bắt đầu thức tỉnh, nó càng thức tỉnh thì càng có khả năng thức tỉnh nó
thêm nữa; nó cứ mở ra mãi. Một khi đã được bắt đầu, dòng suối năng lượng này
bao la và vô tận đến mức bạn không bao giờ vét cạn được nó. Nói cách khác,
không bao giờ có một khoảnh khắc trong đời bạn mà bạn có thể nói rằng bây giờ
không còn gì nữa để được đánh thức.
Khả năng của việc đánh thức là vô hạn; bạn có
thể rút ra khối lượng năng lượng bất kì từ kho dự trữ vô hạn này. Và bạn càng
rút từ nó ra nhiều thì bạn càng trở nên mạnh mẽ hơn để đánh thức ngày một nhiều
hơn năng lượng lớn lao này. Và khi bạn đã có dư thừa về năng lượng bên trong
này trong quyền sử dụng của mình, chỉ thế thì bạn mới có thể dùng nó trong cuộc
truy tìm cái không biết. Và cũng chỉ thế thì bạn mới có thể mạo hiểm bước đi
trên con đường không biết và chưa hề được vẽ bản đồ. Các bạn có hiểu điều tôi
đang nói không?
Có một loại giàu có khác trong thế giới bên
ngoài nữa. Một người đã tích luỹ của cải dư thừa và bây giờ người đó nghĩ tới
việc làm một chuyến đi lên mặt trăng. Đi lên mặt trăng là vô nghĩa; chẳng có gì
để thu được cả. Nhưng chẳng có gì sai về điều đó; bởi vì chẳng có gì để mất cả.
Người đó có nhiều đến mức người đó có thể dễ dàng đảm đương được việc đó.
Chừng nào bạn không có thừa thãi của cải - bạn
chỉ có đủ cho việc sử dụng hàng ngày của mình hay thậm chí còn thiếu - bạn sẽ
giữ cái nhìn nghiêm ngặt vào việc chi tiêu của mình; bạn sẽ nghĩ hai lần trước
khi tiêu ngay cả một đồng xu. Và do đó bạn sẽ không bao giờ bước ra khỏi thế
giới đã biết. Đi vào trong điều không biết bạn cần năng lượng thừa thãi, dư
thừa năng lượng. Và kundalini sẽ rót đầy bạn bằng sự thừa thãi đó. Thế thì bạn
có nhiều tới mức vấn đề nảy sinh là làm sao dùng được nó và dùng ở đâu.
Và nhớ lấy, khi bạn có năng lượng thừa thãi,
bạn bỗng nhiên thấy rằng tất cả các kênh năng lượng cũ đều hoàn toàn bị tắc
nghẹt; vì chúng bây giờ không có khả năng nhận nhiều thế, chúng không được dự
định cho điều đó. Cũng giống như đại dương đã rơi vào trong một dòng sông nhỏ,
quét sạch dòng sông này khỏi sự tồn tại ngay tức khắc. Dòng sông sẽ không bao
giờ biết chỗ nó đã bị biến mất và biến mất như thế nào. Các kênh cũ của giận dữ
của bạn, của dục của bạn và phần còn lại của nó bỗng nhiên sẽ bị tắc nghẹt và
biến mất. Cái ngày trận lụt năng lượng sẽ dâng lên, nó sẽ nghiền nát và phá huỷ
tất cả những cầu tàu và bến bờ cũ của nó. Bạn bỗng nhiên sẽ thấy rằng cái gì đó
hoàn toàn mới và khác biệt đã đi vào sự hiện hữu. Và bạn sẽ tự hỏi điều gì đã
xảy ra cho tất cả những việc tiết kiệm nhỏ bé của mình và sự keo kiệt của mình
và việc sống bủn xỉn của mình. Những nỗ lực yếu ớt của bạn - như thực hành vô
dục và kìm nén giận dữ và làm cái này cái nọ - sẽ biến mất vào trong thinh
không, bởi vì các kênh và dòng sông cũ đã biến mất và toàn thể đại dương đã
xuất hiện trong khung cảnh từ bây giờ ở đây.
Và khi bạn không còn cách nào khác để dùng
năng lượng mênh mông này, bạn bỗng nhiên thấy rằng năng lượng này đã lập ra
cuộc hành trình hoàn toàn khác. Bởi vì cuộc hành trình này phải tiếp diễn không
ngừng mãi; nó không bao giờ có thể đi tới chỗ dừng được. Năng lượng sẽ cứ
chuyển động; nó không thể dừng được. Cuộc hành hương này kéo dãi vĩnh viễn.
Vấn đề chỉ là đánh thức năng lượng này một lần
thôi. Thế rồi những cách sống cũ của bạn trở thành vô nghĩa, và nhiều điều
không biết và những cánh cửa không quen thuộc, vẫn đóng im ỉm qua nhiều thời
đại, bắt đầu nhường đường cho năng lượng đang xô tới này. Và bắt đầu có việc
bạn kinh nghiệm ngoại cảm. Và ngay khi những cánh cửa ngoại cảm mở ra bạn bắt
đầu nhận biết về phần vô thân thể của thân thể, điều có thể được gọi là linh
hồn hay tâm linh.
Cho nên kundalini là việc chuẩn bị của thân
thể để đi vào vô thân thể, linh hồn. Chính theo nghĩa này mà tôi đã nói như vậy
ở Nargol.
Người hỏi: khi nói về việc đi lên và đi xuống của năng lượng kundalini, thầy nói rằng việc đi lên của nó ở trước việc đi xuống. Liệu việc đi xuống của nó có hệt như việc đi xuống hay hội nhập vào kunda hay nó là cái gì đó khác? Xin thầy giải thích hiện tượng đi lên và đi xuống.
Thực tế, việc hội nhập vào kunda không phải là
đi xuống không phải là đi lên; nó không thuộc vào loại nào cả. Vấn đề không
phải là lên và xuống; đấy chỉ là vấn đề biến mất, vấn đề dừng hiện hữu. Khi một
giọt nước rơi vào trong đại dương, nó không lên hay xuống, nó chỉ biến mất vào
trong đại dương. Tất nhiên, khi giọt nước khô đi trong nhiệt mặt trời, nó chắc
chắn bay lên trời dưới dạng hơi nước. Và khi nó tiếp xúc với khí lạnh, hơi nước
biến thành mây; nó xuống đất dưới dạng mưa. Nhưng cuộc hành trình của nó tới
biển thì không lên không xuống; nó đơn giản hội nhập, biến mất, chết đi trong
đại dương.
Cho nên câu hỏi về lên và xuống nảy sinh theo
một nghĩa rất khác biệt. Chính theo nghĩa này mà nhiều lần năng lượng chúng ta
dâng lên phải được đưa trở về kunda, về bể. Chúng ta dâng năng lượng lên và
đồng thời chúng ta trả nó về cội nguồn, lặp đi lặp lại. Và cần phải làm như vậy
bởi nhiều nguyên nhân. Một nguyên nhân lớn là ở chỗ thường khối lượng năng
lượng được đánh thức lại nhiều hơn điều chúng ta có thể chịu đựng được, và do
vậy nó phải được gửi trả lại cội nguồn của nó; bằng không thì nó có thể tỏ ra
nguy hiểm.
Năng lượng nào đó, nếu nó nhiều hơn điều chúng
ta có thể nhận... Khả năng của chúng ta mang được một thứ nào đó là có giới
hạn; ngay cả khả năng của chúng ta để mang hạnh phúc cũng bị giới hạn. Cả khả
năng của chúng ta chịu đau đớn và quyền lực cũng bị giới hạn. Và nếu cú sốc của
hạnh phúc hay đau đớn hay quyền lực xô tới mà nhiều hơn khả năng chúng ta có
thể nhận, thế thì các cơ quan thần kinh của chúng ta có thể bị đánh thủng. Và
điều này sẽ rất có hại. Đó là lí do tại sao nhiều lần năng lượng quá nhiều đã
phải trả lại về cội nguồn của chúng. Nhưng điều đó tuỳ thuộc vào các kĩ thuật.
Điều đó không nhất thiết trong trường hợp kĩ thuật mà tôi đang nói tới. Có
những kĩ thuật đánh thức năng lượng ngay lập tức và bất thần; chúng được gọi là
các kĩ thuật của đốn ngộ. Và bao giờ cũng có nguy hiểm cố hữu trong việc thực
hành những kĩ thuật như vậy, bởi vì việc năng lượng xô tới có thể thành quá
nhiều đến mức bạn không chịu nổi; bạn có thể không được chuẩn bị cho điều đó.
Điện thế của nó có thể cao tới mức ngọn đèn của bạn có thể bị tắt ngóm, hay cầu
chì của bạn có thể đứt, hay quạt của bạn có thể bị cháy, hay xe của bạn có thể
bốc cháy. Nhưng kĩ thuật mà tôi cho các bạn ở đây không bị nguy hiểm này; ban
đầu nó tạo ra tiềm năng trong bạn và thế rồi đánh thức năng lượng của bạn.
Cố gắng hiểu điều đó theo cách này. Nếu một
chiếc đập lớn bục ra, nó sẽ gây ra rất nhiều hư hỏng. Nhưng nước của cũng cái
đập ấy có thể được chuyển kênh theo cách có điều tiết và tuân theo nhu cầu của
người dùng.
Một biến cố duy nhất xảy ra trong cuộc đời của
Krishnamurti. Trong thời vị thành niên của mình, ông ấy đã bị một số người đặc
biệt thuộc vào thông thiên học buộc phải trải qua toàn bộ kỉ luật kundalini.
Một số thực nghiệm đã được thực hiện trên ông ấy, nhưng ông ấy bây giờ không
còn kí ức rõ ràng về chúng. Ông ấy không nhận biết về điều ông ấy đã phải trải
qua. Ông ấy chỉ trở nên nhận biết khi đại dương của chứng ngộ đã đi vào kênh
chính là ông ấy. Đó là lí do tại sao ông ấy không có tri thức về pha chuẩn bị cho
cuộc sống tâm linh của mình.
Và do vậy ông ấy không chấp nhận rằng bất kì
việc chuẩn bị nào cũng là cần thiết cho chứng ngộ. Nhưng sự kiện là ở chỗ ông
ấy đã được chuẩn bị cho điều này theo cách lớn lao, điều chưa bao giờ xảy ra
trên trái đất này trước ông ấy. Thực tế cũng có một số người đã làm công việc
chuẩn bị, nhưng họ đã tự mình làm nó. Tại đây lần đầu tiên những người khác đã
làm việc này cho Krishnamurti. Họ thực sự đã làm việc trên ông ấy.
Người hỏi: Người khác có thể thực sự làm điều
đó được không?
Một cách tuyệt đối, những người khác có thể
làm được điều đó, bởi vì theo nghĩa sâu sắc nhất thì người khác không phải là
người khác. Những người với chúng ta có vẻ như là người khác thì lại không phải
vậy. Cho nên người khác đã làm những chuẩn bị này, và họ đã làm như vậy vì một
nguyên nhân vĩ đại, để hiện thực hoá một biến cố lớn lao. Nhưng biến cố này đã
không thể được hiện thực hoá; thực nghiệm này bị tịt.
Biến cố mà các nhà thông thiên học đã chuẩn bị
là việc đến, việc đi vào của một linh hồn vĩ đại, vì điều đó mà Krishnamurti đã
được chọn lựa làm phương tiện. Krishnamurti chỉ bị sử dụng như phương tiện, và
ông ấy đã được chuẩn bị cho ý định này. Với ý định này các kênh tâm linh đã
được đào bới ra và năng lượng đã được đánh thức qua trung gian của
Krishnamurti. Nhưng điều này chỉ mới là phần sơ bộ của công việc. Chừng nào còn
có liên quan tới Krishnamurti, ông ấy không phải là mục đích của dự án, ông ấy
chỉ được dùng như phương tiện. Đó là vấn đề tạo ra chỗ trong ông ấy để một linh
hồn khác nào đó tới và thường trú. Nhưng điều đó không thể thành công được; nó
đã thất bại.
Dự án này thất bại bởi vì khi sự việc tới,
Krishnamurti đã từ chối là phương tiện; ông ấy đã từ chối đóng vai trò trung
gian cho ai đó khác. Người ta sợ rằng ông ấy sẽ làm như vậy. Nỗi sợ như vậy bao
giờ cũng có đó, và đó là lí do tại sao những thực nghiệm như vậy chưa bao giờ
được thực hiện trong quá khứ. Nỗi sợ này là thực; bởi vì khi một người đi tới
trạng thái mà người đó có thể là chỗ chấm dứt cho bản thân mình, thì sao người
đó phải đồng ý là phương tiện cho ai đó khác? Krishnamurti đã từ chối vào giờ
cuối cùng.
Điều đó cũng giống như thế này: tôi đưa bạn
chiếc chìa khoá ngôi nhà tôi để cho bạn có thể chuẩn bị nó cho một người khách
được dự định tới đây vào ngày mai. Nhưng sau khi tôi trao tay cho bạn chiếc
chìa khoá và rời khỏi nhà, bạn trở thành người chủ. Bạn rất có thể từ chối đón
người khách vào ngôi nhà này với lời tự biện bạch rằng bạn là chủ của nó, chiếc
chìa khoá đang ở cùng bạn. Chiếc chìa khoá này được ai đó khác làm ra, và ai đó
khác đã xây dựng ngôi nhà này nữa. Và mặc dầu bạn có chìa khoá, bạn vẫn không
có tri thức về cách làm khoá hay cách ngôi nhà đã được xây dựng. Nhưng vì bạn
sở hữu chiếc khoá và bạn biết cách mở ngôi nhà, nên vấn đề chấm dứt ở đó.
Điều như vậy đã xảy ra. Một số người có thể
được chuẩn bị, và một số người khác tới đã được chuẩn bị từ các kiếp trước của
họ. Nhưng đây không phải là vấn đề bình thường. Thông thường, mọi người
đều phải tự chuẩn bị cho chính mình. Và điều duy nhất đúng là việc chuẩn
bị phải tới trước và việc xảy ra chứng ngộ tới sau đó. Nhiều nước hơn phải chảy
vào trong kênh chỉ khi khả năng tiếp nhận của nó tăng lên.
Phải hết sức chăm chú rằng năng lượng này được
đánh thức chỉ theo tỉ lệ với khả năng tiếp nhận của bạn, không bao giờ nhiều
hơn thế. Có những kĩ thuật đưa tới việc xả ra năng lượng quá mức. Đó là cách
nhiều người đã bị phát điên và tẩu hoả nhập ma. Và chính bởi vì những thực hành
như vậy mà mọi người trở nên rất sợ tôn giáo.
Cho nên chúng ta có thể có hai cách đánh thức
năng lượng và không có mấy khó khăn về nó.
Tôi định kể cho các bạn một kinh nghiệm gần
đây của Mĩ - từ việc quản lí nguồn cấp điện của họ - làm sao nhiều lúc các kế
hoạch của chúng ta cứ bị thất bại. Tình huống như vậy có thể nảy sinh ngay cả
trong phạm vi nội bộ cuộc sống chúng ta. Ở Mĩ họ có 80 cơ quan được tổ chức ra
để phân phối điện sao cho nếu điện dư thừa ở thị trấn đặc biệt nào đó - nếu vào
đêm đặc biệt nào đó thị trấn này dùng ít điện hơn hạn ngạch đã được phân bổ -
thì lượng điện thừa này được tự động truyền sang thị trấn khác nơi đang cần.
Điều đó ngụ ý rằng ngay cả một lượng năng lượng điện nhỏ cũng không được phép
còn đó không được dùng tới tại bất kì chỗ nào; nó ngay lập tức được truyền sang
chỗ khác cần dùng nó.
Chẳng hạn, một nhà máy làm việc mãi tới tối
hôm qua đã đóng cửa ngày hôm nay do chuyện bất ổn lao động, và nó sẽ không dùng
năng lượng đã được cấp cho nó. Rồi có thị trấn khác nơi một nhà máy có thể đang
nằm chơi nhàn rỗi vì thiếu năng lượng. Cho nên họ đã tổ chức nó theo cách điện bên
trong vùng này thường được chuyển tiếp từ chỗ này sang chỗ khác, để cho không
có dư thừa ở chỗ này và khan hiếm ở chỗ khác.
Nhưng việc đã xảy ra như vậy vài năm trước đây
- và nó đã xảy ra vì hệ thống tự động truyền năng lượng này - rằng trong mười
tới mười hai giờ nước Mĩ chìm ngập trong bóng tối, và một loại hỗn loạn chế ngự
khắp nơi. Khi điều đó xảy ra, đã có hỏng nguồn điện ở thị trấn nào đó và kết
quả là chân không đã được tạo ra ở đó. Bây giờ toàn thể năng lượng quá mức
trong mạng của vùng đó tự động xô trở lại vùng đó - với lực mạnh tới mức tất cả
mọi cầu chì trong thị trấn đó đều bị nổ tung và hậu quả là toàn thể hệ thống
được liên nối lẫn nhau của vùng đó bị gián đoạn và mất tổ chức. Toàn thể tổ
chức cung cấp điện sụp đổ, và bỗng nhiên trong hai mươi bốn giờ nước Mĩ trở về
trạng thái đã tồn tại hai nghìn năm trước đây. Có việc tắt đèn khắp mọi nơi, và
tất cả cuộc sống xã hội đi tới chỗ dừng lại.
Chỉ từ đó họ mới nhận ra lần đầu tiên rằng tất
cả mọi nỗ lực của họ nhằm vào tính hiệu quả và tạo dòng chảy đều có thể bật lại
vào họ và chứng tỏ là thảm hoạ. Việc này đáng không bao giờ xảy ra nếu từng thị
trấn có hệ thống tách bạch riêng của mình về nguồn cấp điện. Việc này có thể
không bao giờ xảy ra ở Ấn Độ, rằng điện của toàn quốc bị mất ngay một lúc. Nó
chỉ có thể xảy ra ở Mĩ, nơi ngay cả nguồn cấp điện cũng được tổ chức một cách
toàn thể và tập trung và nơi mà mạch điện chảy tràn đầy mọi lúc. Cho nên bao
giờ cũng có nguy hiểm.
Có một hệ thống như mạch điện bên
trong con người nữa. Và nếu dòng điện ở bên trong bạn chảy về bạn với số lượng
lớn hơn mức bạn có thể tiếp nhận, sẽ có thể nguy hiểm. Và có những kĩ thuật mà
với chúng bạn có thể làm tăng luồng điện bên trong của mình. Chẳng hạn, bạn
đang ngồi với năm mươi người khác trong phòng này. Với sự giúp đỡ của kĩ thuật
nào đó bạn có thể, nếu bạn muốn, làm cho năng lượng của tất cả năm mươi người
này chảy về bạn - một người. Trong biến cố đó tất cả năm mươi người này, bị rút
cạn năng lượng của họ, sẽ trở thành vô ý thức, trong khi bạn sẽ trở thành cây cột
trụ năng lượng, bạn sẽ bùng nổ bởi năng lượng. Nhưng điều này có thể tỏ ra là
nguy hiểm cho bạn nữa. Có thể là năng lượng được xả ra thành quá nhiều bạn
không kham nổi. Và điều trái ngược lại cũng có thể xảy ra. Qua cùng con đường,
dòng năng lượng của bạn có thể được hướng chảy sang người khác, rút dần toàn
thể năng lượng của bạn. Tất cả những thực nghiệm như vậy đều đã được tiến hành
trong quá khứ.
Cho nên có những phương pháp mà với chúng
người ta có thể trả lại năng lượng dư thừa về cội nguồn trong trường hợp quá
nhiều năng lượng chảy về các trung tâm cao hơn vào một lúc, trong trường hợp có
thừa năng lượng. Nhưng điều này không nhất thiết có trong trường hợp các kĩ
thuật tôi đang trao cho các bạn ở đây. Điều này hoàn toàn không cần thiết, bởi
vì năng lượng sẽ được xả ra trong trường hợp này chỉ tỉ lệ với khả năng nhận nó
của bạn. Chúng ta sẽ tạo ra không gian trước hết và thế rồi thả năng lượng lấp
đầy không gian này. Cho nên các bạn sẽ không bao giờ cần trả lại bất kì năng
lượng thặng dư nào. Tình huống như vậy sẽ không phát sinh ra. Tất nhiên, một
ngày nào đó chính bản thân bạn sẽ trở về cội nguồn; nhưng đấy là vấn đề khác.
Khi biết mọi điều bạn sẽ lấy cú nhảy và hội nhập với kunda. Nhưng điều đó là
việc hoàn toàn khác.
Những từ này, lên và xuống, đã được dùng với
nghĩa khác nữa. Nghĩa mà trong đó Shri Aurobindo dùng chúng rất khác.
Chúng ta có thể nghĩ tới năng lượng thiêng
liêng theo hai cách: hoặc chúng ta nghĩ về nó như cái gì đó nằm trên chúng ta,
trên đỉnh, trên trời, hay như cái gì đó nằm dưới, tại đáy, trong chiều sâu vực
thẳm. Chúng ta nghĩ dưới dạng điểm cao nhất hay điểm thấp nhất. Nhưng chừng nào
có liên quan tới cấp độ vũ trụ, thì thuật ngữ trên và dưới, đỉnh và đáy, là vô
nghĩa; chúng không có liên quan về bất kì cái gì. Chúng chỉ là các khái niệm tư
duy của chúng ta; chúng chỉ đại diện cho cách nghĩ của chúng ta. Chúng ta lấy
trần căn phòng này là trên chúng ta, nhưng nó không phải vậy. Nếu chúng ta
khoan đất ngay tại chỗ này bằng máy khoan và cứ khoan tới, một ngày nào đó nó
sẽ kết thúc ở Mĩ. Và nếu ai đó quan sát từ đó thì người đó sẽ thấy cái trần này
ở dưới chúng ta - dưới đầu chúng ta, không ở trên chúng. Chúng ta sẽ xuất hiện
với người đó như một bầy người đang làm shirshasana - đứng trên đầu mình. Nhưng
cái trần này vẫn còn như cũ. Điều đó tuỳ thuộc vào cách thức và từ đâu chúng ta
thấy nó.
Cùng cách này các khái niệm của chúng ta về
đông và tây đều là giả. Đông là gì và Tây là gì? Nếu bạn cứ đi mãi về phương
đông thì bạn sẽ tới phương tây. Và nếu bạn cứ đi mãi theo phương tây bạn sẽ tới
phương đông. Tại sao gọi nó là phương tây nếu bước đi theo hướng này bạn tới
phương đông? Điều đó là vô nghĩa. Mọi khái niệm như vậy đều tương đối, và do
vậy nó là không thực. Nó chỉ là một giả thiết tiện dụng, một khái niệm tưởng
tượng; nó có ích và vậy mà giả. Bạn có thể nói phương đông ở đâu và nó bắt đầu
từ đâu không? Nó bắt đầu ở Calcutta, Rangoon hay Tokyo? Phương tây bắt đầu và
kết thúc ở đâu? Chúng thực sự bắt đầu bây giờ ở đây và kết thúc bây giờ ở đây.
Chúng chỉ là các khái niệm tiện dụng, qua đó chúng ta phân chia trái đất ra
theo thuận tiện của mình.
Theo cùng cách này trên và dưới, đỉnh và đáy,
là các khái niệm tiện dụng. Trong khi đông và tây là các khái niệm chiều ngang,
trên và dưới là các khái niệm chiều đứng. Dù sao chúng cũng chỉ là những khái
niệm. Thực tế chẳng có gì như ở trên và ở dưới cả; bởi vì vũ trụ không có mái
và không có sàn. Nó bao la và vô giới hạn thế. Cho nên mọi việc nói về ở trên
và ở dưới, lên và xuống, đều vô nghĩa.
Nhưng khái niệm tiện dụng này về trên và dưới
đã xâm lấn vào tư duy tôn giáo của chúng ta nữa. Cho nên một số người kinh
nghiệm Thượng đế là cái gì đó tới từ trên cao; và thế rồi đó là trường hợp của
năng lượng giáng xuống họ. Một số người kinh nghiệm Thượng đế như cái gì đó nảy
sinh từ bên dưới, từ mái nhà; trong trường hợp đó năng lượng dâng lên với họ,
nhưng thực tế phân chia này không có nghĩa. Nơi chúng ta đặt Thượng đế - trên
hay dưới - là vấn đề khuynh hướng và thích hợp. Nhưng nếu chúng ta phải chọn
lựa trong thu xếp dịch chuyển này, tôi ưa thích khái niệm về lên hơn khái niệm
về xuống.
Khái niệm về đi lên của năng lượng sẽ ích lợi
cho bạn hơn so với khái niệm đi xuống, và có lí do cho điều đó. Bởi vì nếu bạn
lấy khái niệm đi lên, bạn sẽ phải nâng năng lượng lên, bạn sẽ phải làm việc vì
nó. Và trong trường hợp bạn chọn khái niệm kia, việc đi xuống của năng lượng,
bạn sẽ bị bỏ lại chẳng có gì ngoài lời cầu nguyện, bạn sẽ không làm gì ngoài
cầu nguyện. Nếu đấy là vấn đề của năng lượng đi xuống, thì bạn chỉ có thể
khoanh tay và cầu nguyện.
Do đó, hai loại tôn giáo đã tiến hoá trên toàn
thế giới - một loại dựa trên thiền còn loại kia dựa trên lời cầu nguyện. Các
tôn giáo giao phó cho lời cầu nguyện là những tôn giáo kinh nghiệm Thượng đế ở
trên, trên bầu trời. Ngài ở trên bầu trời trong sáng còn chúng ta không thể làm
được việc đem ngài xuống chỗ chúng ta. Nếu chúng ta muốn tìm thấy ngài, chúng
ta sẽ phải dâng lên ngày một cao hơn. Và nếu chúng ta cố gắng làm như vậy, bản
thân chúng ta có thể trở thành Thượng đế. Nhưng chúng ta không thể đi lên được;
chúng phải vẫn ở nơi chúng ta đang ở. Và do vậy tất cả những gì chúng ta có thể
làm được là gọi ngài trong lời cầu nguyện: "Hỡi Thượng đế, xin ngài giáng
xuống chúng con! Xuống với chúng con đi."
Mặt khác, có những tôn giáo tin rằng chúng ta
phải dâng cái gì đó lên từ bên trong chúng ta, rằng có cái gì đó đang ngủ ở gốc
rễ chúng ta, và nó có thể được nâng lên chỉ nếu chúng ta làm điều gì đó theo
hướng này. Những tôn giáo đó quay lưng lại với cầu nguyện và chọn lấy thiền.
Chúng trở thành tôn giáo của thiền. Cho nên khái niệm về trên và dưới đã tạo ra
tất cả khác biệt giữa cầu nguyện và thiền. Tôn giáo của cầu nguyện tin vào
Thượng đế ở cao bên trên còn tôn giáo của thiền nghĩ rằng ngài cư trú ở gốc rễ,
từ nơi đó ngài phải được nâng lên.
Và nhớ rằng dần dần, tôn giáo của lời cầu
nguyện đã làm mất dần nền tảng và chết đi. Không có tương lai cho chúng; chúng
không có tương lai về bất kì cái gì. Còn tôn giáo của thiền phát triển hàng
ngày về tiềm năng, và họ có tương lai vô cùng trước họ.
Tôi muốn các bạn hiểu rằng con đường của cuộc
hành trình của chúng ta đi lên từ phía dưới, từ đây.
Khái niệm này có một số nghĩa khác nữa. Tuy
nhiên khái niệm này là tương đối. Do đó, không thành vấn đề gì với tôi nếu các
bạn tin vào Thượng đế ở trên trời kia. Tôi sẽ không gặp khó khăn nào về điều
đó. Nhưng tôi biết rằng các bạn chắc chắn sẽ đối diện với khó khan trong việc
thực hiện điều đó. Tôi đã nói một chút trước đây rằng nếu chúng ta cứ đi về
phương đông mãi thì chúng ta chung cuộc sẽ tới phương tây; nhưng điều này không
có nghĩa là chúng ta phải đi về phương đông nếu chúng ta phải đi về phương tây;
chúng ta chỉ nên đi về phương tây. Mặc dầu khái niệm đông tây là vô nghĩa, vậy
mà chúng ta bắt đầu đi về phương tây nếu chúng ta phải đi về phương tây. Điều
này cũng đúng; rằng nếu chúng ta cứ đi về phương đông mãi chúng ta chung cuộc
sẽ tới phương tây. Nhưng thế thì cuộc hành trình sẽ quá dài không cần thiết.
Bạn có hiểu điều tôi muốn nói không?
Sẽ có nhiều khác biệt giữa người sùng kính và
thiền nhân. Thượng đế của người sùng kính ở mãi trên trời, và do vậy người đó
sẽ cầu nguyện và chờ đợi với tay khoanh lại. Còn Thượng đế của thiền nhân thì
ẩn kín bên dưới trong gốc rễ của người đó và do vậy người đó sẽ chuẩn bị sẵn
sàng hành động và nỗ lực để đánh thức ngài.
Có những cách diễn giải khác chúng ta cần nhớ
trong đầu. Khi chúng ta tin Thượng đế ở dưới thấp, tại gốc rễ, sự hiện diện của
ngài được cảm thấy ở mọi nơi, ngay cả trong điều chúng ta gọi là bản năng và
xúc động cơ sở hơn của mình. Thế thì không có gì trong tâm trí chúng ta còn lại
là cơ sở và thấp cả, bởi vì nếu bản thân Thượng đế sống ở vùng thấp, ngài hiện
diện ngay cả trong điều chúng ta gọi là vùng thấp nhất của cuộc sống chúng ta.
Và ngài có thể được đánh thức ngay cả ở đó. Nếu dục là vùng đó, thì Thượng đế
sẽ ở đấy nữa, và ngài có thể được đánh thức và được đạt tới từ cả đầu đó nữa.
Nói cách khác, không thể có chỗ nào mà không tìm được ngài. Ngài sẽ được tìm
thấy ngay cả ở chỗ thấp nhất của địa ngục, nếu như có chỗ đó.
Nhưng nếu chúng ta tin rằng Thượng đế ở đâu đó
trên tầng trời, thì việc kết án bắt đầu ngay lập tức; thế thì bất kì cái gì
đứng bên dưới đều bị kết án, bởi vì Thượng đế không có ở đó. Và thế thì một
cách vô ý thức cảm giác về tự ti nắm bắt lấy người tin tưởng. Và hậu quả của nó
- hậu quả tâm lí của việc tự kết án và mặc cảm - đơn giản là thảm hoạ.
Và nếu bạn muốn đứng trên đôi chân vững chắc
và mạnh mẽ, điều cần thiết là năng lượng phải tới từ bên dưới, vì điều đó sẽ
thêm phần làm mạnh cho đôi chân bạn. Nếu năng lượng tới từ bên trên, nó sẽ chỉ
chạm tới đầu bạn. Nhưng vấn đề là ở chỗ năng lượng, để có hiệu quả, phải đạt
tới chính gốc rễ.
Và năng lượng tới từ bên trên bao giờ cũng
dường như xa lạ và ngoại lai. Đó là lí do mà những người đạt tới qua lời cầu
nguyện không bao giờ tin rằng Thượng đế và chúng ta là một. Người Hồi giáo bao
giờ cũng kiên quyết phản đối bất kì ai nói rằng mình là Thượng đế. Họ nghĩ rằng
Thượng đế và con người không thể là một và như nhau được, bởi vì Thượng đế ở
tít trên trời còn con người lại ở đây trên đất này, ở dưới đáy. Do đó họ chặt đầu
Mansoor và giết chết Sarmad. Với họ không có báng bổ nào lớn hơn điều này, rằng
bất kì ai cũng nói rằng mình là Thượng đế. Bởi vì trong khi Thượng đế là cao
nhất, con người cùng lắm cũng chỉ như loài sâu bọ bò trên đất. Làm sao con
người thấp bé có thể đồng nhất mình với điều cao nhất được?
Lí do cho niềm tin này là ở chỗ chúng ta coi
Thượng đế là ở tít cao còn bản thân chúng ta là những sinh linh thấp bé, chúng
ta nhất định là hai thực thể tách biệt. Bởi chính lí do này mà người Sufis chưa
bao giờ chấp nhận được đạo Hồi - tôn giáo của những người Hồi giáo - bởi vì
người Sufis công bố rằng họ và Thượng đế là một.
Chúng ta có thể là một với Thượng đế chỉ nếu
Thượng đế đi từ chỗ thấp, bởi vì chúng ta ở chỗ thấp. Chỉ nếu Thượng đế tới từ
đất và không từ trời thì ngài mới là có thể và chúng ta hợp nhất vào trong một
sự hiện hữu.
Ngay khi chúng ta đưa Thượng đế lên ngai vàng
trên trời, cuộc sống trần tục của chúng ta bị kết án; nó trở thành tội lỗi. Và
thế thì được sinh vào trong thế giới này được xem như kết quả của tội lỗi của
chúng ta. Còn khi chúng ta đặt Thượng đế tại gốc rễ, cuộc sống trên đất này trở
thành phúc lạc, phúc lành. Thế thì nó chấm dứt việc là kết quả của tội lỗi của
chúng ta và biến thành món quà của Thượng đế và từ bi của ngài. Và thế rồi sự hiện
diện của ánh sáng của ngài sẽ được cảm thấy ngay cả ở chỗ tối nhất của mọi vật.
Và thế rồi, Thượng đế sẽ hiện diện trong bản thể bên trong nhất của ngay cả
người tồi tệ nhất, ngay cả người độc ác nhất.
Do đó tôi ưa thích là các bạn tin Thượng đế là
lực đi lên; mặc dầu thực tế không có khác biệt giữa hai khái niệm này về lực đi
lên và đi xuống. Không có khác biệt về bất kì điều gì đối với người biết. Người
đó sẽ nói rằng cả hai ý tưởng này đều vô dụng. Nhưng nếu chúng ta không biết và
muốn đi trên cuộc hành trình tâm linh, tốt hơn cả là chúng ta chọn con đường
làm cho cuộc hành trình được dễ dàng hơn. Cho nên tôi muốn người tìm kiếm hiểu
rằng năng lượng sẽ nảy sinh từ đáy và cứ theo cuộc hành trình đi lên.
Do đó, những người chọn cuộc hành trình đi lên
đều chấp nhận lửa như biểu tượng của Thượng đế, bởi vì lửa bao giờ cũng bốc
lên. Lửa trong ngọn đèn, ngọn lửa của nó, thường xuyên đi lên, bốc lên. Đó là
lí do tại sao ở chỗ thầm kín sâu nhất của tâm trí mình chúng ta đã chấp nhận
lửa như biểu tượng của Thượng đế - bởi một lẽ đơn giản là bất luận điều bạn
làm, lửa bao giờ cũng lên thẳng, và khi nó lên thẳng chẳng mấy chốc nó biến mất
vào trong hư không. Ngọn lửa của đám lửa thấy được trong một chốc và thế rồi tự
nó mất đi trong thinh không. Tương tự người tìm kiếm sẽ dâng lên, sẽ thấy được
trong một chốc và thế rồi người đó sẽ mất đi bản thân mình trong cái không thấy
được.
Do đó tôi nhấn mạnh vào việc đi lên của năng
lượng và không nhấn mạnh vào việc đi xuống của nó.
Người hỏi: Thầy nói tại trại Nargol rằng chúng ta phải làm kiệt quệ thân thể qua việc thở mãnh liệt và sâu và thường xuyên hỏi câu hỏi "Tôi là ai?" để cho chúng ta đi vào thiền sâu. Nhưng làm sao làm kiệt quệ và nảy sinh việc thiếu năng lượng dẫn tới thiền thực sự cần năng lượng dư thừa?
"Làm kiệt quệ" không có nghĩa là sẽ
thiếu năng lượng nào. Khi tôi nói các bạn phải làm cho bản thân mình kiệt quệ,
điều tôi ngụ ý bởi từ "bản thân mình" là gì? Tại đây "bản thân
mình" nghĩa là các giác quan của bạn mà qua đó năng lượng của bạn chảy vào
quá trình đều đặn mọi ngày. Với "bản thân mình" tôi ngụ ý thân thể
bạn; tôi ngụ ý bạn như bạn ngay bây giờ. Tôi không nói về bạn thực sự là gì;
tại khoảnh khắc này tôi quan tâm tới bạn là gì.
Cho nên khi các bạn tự làm kiệt quệ mình, hai
điều xảy ra cùng nhau. Khi các bạn làm kiệt quệ mình, tất cả các thực hành giác
quan của bạn làm kiệt quệ thân-tâm bạn, các cơ quan cảm giác của bạn, mặt khác
nó cứ nện búa vào kundalini của bạn. Cho nên từ một đầu các bạn bị kiệt quệ và
từ đầu bên kia năng lượng ngủ của các bạn bắt đầu thức dậy.
Cả hai quá trình này là đồng thời. Một mặt các
bạn bị mệt đi và mặt khác năng lượng của bạn được đánh thức dậy. Đồng thời, các
bạn không ở vào vị trí dùng năng lượng của mình thêm nữa. Mắt bạn mệt tới mức
chúng không thể nhìn được; tâm trí các bạn mệt tới mức nó không thể nghĩ được,
cho dù nó muốn nghĩ. Chân bạn từ chối chuyển động, chúng hoàn toàn suy kiệt.
Trong tình huống này, nếu các bạn muốn di
chuyển, các bạn sẽ phải di chuyển không có chân, còn nếu các bạn muốn nhìn, các
bạn sẽ phải nhìn không có mắt, bởi vì chúng đã kiệt quệ rồi. Cho nên khi các cơ
quan của bạn bị làm việc quá mức, nó từ chối làm việc. Nhưng đồng thời năng
lượng nào đó đã được đánh thức và nó muốn làm điều gì đó một cách cấp thiết.
Bây giờ năng lượng này lập tức sẽ gõ vào những cánh cửa không bị mệt của bạn,
và sẵn sàng nhận lấy nó và làm việc với nó. Những lối mở này bao giờ cũng sẵn
sàng nhưng đã bị phủ nhận mọi cơ hội để làm việc. Bạn mạnh đến mức bạn có thể
dùng tất cả năng lượng của mình. Bây giờ bạn mệt mỏi, và năng lượng mới và tươi
mát có đấy cho hành động. Nhưng các cơ quan cũ của bạn như mắt và tai sẽ từ
chối nhận nó. Cho nên khi tai và mắt của bạn từ chối, năng lượng mới đó sẽ làm
gì?
Trong tình huống này các bạn sẽ bắt đầu nhìn
từ chiều nào đó rất khác, đó sẽ là một phần mới của bản thể bạn. Trung tâm nhìn
tâm linh của bạn sẽ bắt đầu làm việc, và bạn sẽ thấy những điều mà bạn chưa bao
giờ thấy trước đây. Và các bạn sẽ thấy từ một không gian mà các bạn chưa bao
giờ quen thuộc trong quá khứ. Không gian đó chưa bao giờ được cho cơ hội để vận
hành; bây giờ có cơ hội cho nó, lần đầu tiên.
Chính bởi lí do này mà tôi đã nhấn mạnh vào
việc làm cho bạn kiệt sức. Một mặt, thân thể bạn phải bị làm cho thật mệt, tâm
trí bạn phải bị làm cho thật mệt, tất cả mọi điều bạn có là bị mệt lử, để cho
điều bạn thực sự là và điều bạn không nhận biết đó có thể trở nên tích cực. Khi
năng lượng tươi mát được khuấy động lên, nó đòi hỏi làm việc, và bản thể bạn sẽ
phải cung cấp nó cho công việc. Thực tế năng lượng này sẽ tự nó tìm ra công việc.
Cho nên trong biến cố về tai bạn bị kiệt quệ, năng lượng được đánh thức mới sẽ
nghe thấy cái được gọi là naad, hay âm thanh bên trong. Trong biến cố mắt bạn
bị mệt mỏi, năng lượng mới sẽ thấy ánh sáng, ánh sáng bên trong. Để nghe âm
thanh bên trong và thấy ánh sáng bên trong, tai và mắt vật lí của bạn không
được cần tới. Nó sẽ ngửi thấy mùi hương ở bên ngoài tầm với của mũi thường của
bạn. Vậy, các giác quan rất tinh tế, điều bạn gọi là siêu giác quan, sẽ trở
thành sống động và hoạt động.
Mỗi một trong các giác quan của chúng ta đều
được nối với một siêu giác quan tương ứng. Có tai nghe ra bên ngoài và có tai
khác nghe bên trong bạn. Nhưng tai bên trong chẳng bao giờ được cho cơ hội nào
để vận hành cả. Bởi vì tai bên ngoài của bạn bị làm việc quá sức và nó từ chối
làm việc thêm nữa, mà năng lượng mới tụ tập gần tai đang trơ ì của bạn, nó sẽ
phải làm gì? Nó sẽ kích hoạt tai kia của bạn, tai bên trong, chưa bao giờ được
dùng trong quá khứ. Cho nên bạn sẽ nghe thấy và nhìn thấy những điều mà nếu bạn
nói cho bạn bè mình về chúng thì họ sẽ nói, "Anh mất trí rồi. Điều đó là
không thể được. Anh đang bị ảo tưởng; anh đang mơ đấy."
Nhưng bạn sẽ nghe thấy âm thanh đó còn rõ hơn
bạn nghe nhạc của veena của mình, đàn luýt của mình. Đàn luýt bên trong sẽ được
nghe thấy rõ ràng và to tới mức bạn không bao giờ có thể nghĩ rằng nó có thể
không thực, giả tạo. Bạn sẽ nói rằng nếu đây mà là giả, thì đàn veena bên ngoài
hoàn toàn là giả.
Để cho những cánh cửa mới tới sự tồn tại của
bạn mở ra, điều cần thiết là ban đầu phải làm mệt mỏi các giác quan của bạn.
Một khi những cánh cửa đó được mở ra, sẽ không có vấn đề gì. Thế thì bạn có thể
so sánh, và nói rằng nếu bạn phải nhìn, thì nhìn vào bên trong còn tốt hơn
nhiều, nhiều phúc lạc thế. Cái bên ngoài là vô nghĩa nếu so với cái bên trong.
Nhưng ngay bây giờ bạn không có cách nào để so sánh cả, bạn không có chọn lựa
nào về bất kì cái gì. Nếu bạn muốn nhìn, chỉ có mỗi cảnh bên ngoài để nhìn. Một
khi mắt bên trong của bạn bắt đầu thấy, bạn có chọn lựa rõ ràng; bạn có thể
chọn giữa cái bên trong và cái bên ngoài. Và thế thì bạn bao giờ cũng sẽ chọn
cái bên trong bất kì khi nào bạn cảm thấy thích nhìn. Và bạn sẽ không bỏ lỡ nó;
cái bên ngoài sẽ trở thành vô nghĩa.
Có một câu chuyện trong cuộc sống của Rabiya.
Một buổi chiều tà mặt trời đang lặn và bà ấy
đang ngồi bên trong lều của mình. Một thầy tu khổ hạnh fakir có tên là Hassan
tới thăm bà ấy. Đó là lúc mặt trời lặn và buổi chiều tà đơn giản đang làm cho
người ta say mê. Thế là Hassan gọi bà ấy, "Rabiya ơi, bà đang làm gì đó bên
trong lều? Chiều tà đẹp thế, và mặt trời lặn huy hoàng tôi chưa bao giờ thấy
trước đây. Buổi chiều rực rỡ như thế có thể không thấy được lần nữa đâu. Bà ra
khỏi lều và ngắm nó đi."
Trả lời lại, Rabiya nói, "Ôi ông khờ ơi,
ông còn tiếp tục ngắm mặt trời bên ngoài được bao lâu nữa? Tôi bảo ông quay vào
trong đi, bởi vì ở đây tôi đang ngắm người tạo ra mặt trời. Và tôi đang chứng
kiến những mặt trời như vậy ở đây vẫn còn chưa được tạo ra và sẽ được tạo ra
trong tương lai chưa thấy được. Cho nên tốt hơn cả là ông đi vào đi."
Nhưng Hassan không thể đoán được điều Rabiya
muốn bảo ông ấy. Người đàn bà này thực sự hiếm hoi. Rabiya là một trong số rất
ít phụ nữ có ý nghĩa trong toàn bộ lịch sử loài người. Nhưng Hassan không hiểu
được bà ấy; ông ấy cứ khẩn khoản mãi rằng Rabiya nên bước ra khỏi lều và ngắm
nhìn mặt trời lặn mà bà ấy đang bỏ lỡ. Còn Rabiya cảnh báo ông ấy mãi đừng bị
lạc trong quyến rũ của mặt trời bên ngoài và do vậy bỏ lỡ cái đẹp thực sự của
cái bên trong.
Đối thoại này giữa Rabiya và Hassan xảy ra ở
hai bình diện khác nhau đồng thời. Hai loại giác quan khác nhau cùng tham gia
vào trong đó. Nếu bạn không nhận biết về các giác quan bên trong, thế thì thế
giới bên ngoài là mọi thứ cho bạn.
Và đó cũng chính là ý nghĩa mà tôi nói rằng sẽ
là tốt nếu các giác quan bên ngoài bị kiệt quệ.
Người hỏi: vậy trong việc thiền này, việc làm
kiệt quệ không có nghĩa là thiếu năng lượng.
Không một chút nào. Nó có nghĩa là đánh thức
năng lượng - năng lượng đang ngủ bên trong từng người các bạn. Và toàn bộ công
việc được ngụ ý để đánh thức nó. Đúng là các giác quan bị mệt mỏi; nhưng các
giác quan nào không chứa năng lượng, chúng đơn thuần là những cánh cửa để năng
lượng đi qua đó. Và bạn không là cánh cửa; bạn là cái gì đó khác. Bạn đơn thuần
đi qua những cánh cửa này. Và chính những cánh cửa này bị mệt mỏi và yêu cầu
bạn không đi qua chúng nữa, bởi vì chúng bị làm việc quá sức và cạn kiệt rồi.
Mắt bạn từ chối bị sử dụng. Và các giác quan khác cũng nói như vậy.
Cho nên khởi đầu quá trình làm mệt mỏi các
giác quan này là rất có ích.
Người hỏi: nếu đó là trường hợp của việc đánh
thức năng lượng, thế thì việc thiền này nên đem tới tươi mát thay vì mệt mỏi.
Nhưng thông thường nó đem chỉ mỗi mệt mỏi. Tại sao vậy?
Nó sẽ chỉ như vậy vào lúc bắt đầu. Nhưng dần
dần bạn sẽ cảm thấy tươi mát và sảng khoái. Tươi mát và sảng khoái này tới mức
bạn chẳng bao giờ biết trước đây. Nhưng lúc ban đầu, để cho chắc, bạn sẽ cảm
thấy mệt. Nó là vậy bởi vì bạn đã đồng nhất mình với những giác quan này. Bạn
nghĩ chúng là chính bản thân mình. Cho nên khi các giác quan này mệt, bạn nói
rằng bạn mệt. Sự đồng nhất này với các giác quan phải ra đi.
Chẳng hạn, bạn đang cưỡi ngựa và con ngựa bị
mệt. Bây giờ nếu bạn bị đồng nhất với ngựa thì bạn sẽ nói rằng bạn mệt, bạn mệt
chết đi. Chúng ta thấy mệt với tất cả những gì chúng ta đồng nhất với. Nếu bạn
đồng nhất bản thân mình với ngựa, bạn sẽ mệt khi ngựa mệt. Cái ngày bạn biết
rằng bạn không là ngựa, tươi mát sẽ tới thăm bạn theo cách rất khác. Và thế thì
bạn sẽ biết rằng đó chính là các giác quan mệt chứ không phải là bạn.
Ngược lại, khi các giác quan mệt và từ chối
làm việc, nhiều năng lượng, cái đã từng bị phung phí một cách vô ích trước đây,
nay được tiết kiệm và gìn giữ trong kho năng lượng bên trong bạn. Thế thì bạn
sẽ biết cái được gọi là bảo tồn năng lượng, và nó sẽ ngày càng biến thành kho
tàng vô giá của bạn. Và vì năng lượng này không đi ra, nên nó thấm vào mọi thớ
thịt, mọi lỗ chân lông của con người bạn. Năng lượng này là bạn, và khi bạn
hiểu nó thì bạn sẽ biết khác biệt.
Cho nên dần dần, sau thiền, bạn sẽ kinh nghiệm
tươi mát vô cùng. Nói rằng bạn sẽ cảm thấy tươi mát cũng là sai, thay vì thế
bạn sẽ trở thành bản thân sự tươi mát. Không phải là bạn sẽ cảm thấy tươi mát,
bạn sẽ là tươi mát này. Nhưng điều này sẽ xảy ra chỉ khi đồng nhất của bạn thay
đổi. Ngay bây giờ bạn đang cưỡi ngựa, và cả cuộc đời mình bạn đã đồng nhất mình
với ngựa. Sẽ phải mất thời gian để biết rằng bạn không là ngựa mà là người
cưỡi. Và sẽ dễ hiểu hơn cho bạn nếu ngựa kiệt sức tới mức phải bỏ nó đi. Thế
thì bạn sẽ phải bước bộ, và bước bộ trên đôi chân riêng của bạn. Và khi bạn
bước đi, bạn sẽ biết rằng bạn là tách rời với ngựa.
Nhưng cưỡi trên lưng ngựa một thời gian lâu
bạn đã quên mất rằng bạn có thể bước bộ. Cho nên cũng tốt là con ngựa bị kiệt
sức.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment