Osho - Thiền động (Đi tìm điều huyền bí - Tập
1)
Chương 9. Kundalini, Shaktipat và ân huệ
Người hỏi: Việc thở và việc hỏi câu hỏi
"Tôi là ai?" cần mãnh liệt thế nào, khi có liên quan tới quá trình
thức tỉnh của kundalini và sự xuyên thấu của nó vào các trung tâm khác hay các
luân xa của thân thể?
Có mối quan hệ, và mối quan hệ sâu sắc tại đó,
giữa hai quá trình này. Trong thực tế, chính hơi thở nối linh hồn với thân thể;
hơi thở tạo nên cây cầu giữa cả hai. Đó là lí do tại sao với việc dừng lại của
hơi thở thì cuộc sống dừng hiện hữu. Cuộc sống cứ tiếp diễn cho dù não bị hỏng.
Người ta có thể tồn tại ngay cả khi mắt hay các chi khác của thân thể bị cắt
rời. Nhưng nếu hơi thở dừng lại, cuộc sống sẽ đi tới chấm dứt ngay lập tức.
Việc thở thực sự nối thân thể với linh hồn.
Và chính tại chỗ tiếp nối của linh hồn và thân
thể này, tại điểm gặp gỡ của chúng, là nơi năng lượng được biết là kundalini
thường trú. Kundalini, hay bất kì cái tên nào bạn đặt cho nó, đều là cùng năng
lượng, và nó nằm tại chỗ tiếp nối của thân thể và linh hồn.
Do đó năng lượng này có hai dạng. Khi năng
lượng này tuôn chảy tới thân thể, nó trở thành dục; và khi nó tuôn chảy tới
linh hồn, nó trở thành kundalini hay bất kì cái gì bạn gọi nó. Và năng lượng
này đi xuống khi di chuyển vào thân thể và nó đi lên khi đi vào linh hồn. Cho
nên trong khi kundalini là năng lượng đi lên, thì dục là năng lượng đi xuống.
Nhưng chỗ của kundalini, chỗ của vị trí của nó, bị gõ vào và bị chuyển động bởi
việc thở, thở sâu và nhanh.
Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng bạn không thể
giữ được hơi thở mình lặng lẽ khi làm tình. Làm tình đem tới thay đổi ngay lập
tức trong chuyển động của hơi thở. Ngay khi người ta bị kích động dục, hơi thở
dồn dập lên ngay. Bởi vì chừng nào việc thở còn chưa đập vào trung tâm này, thì
năng lượng dục không thể chuyển động được nếu không bị đập vào và bị kích thích
bởi việc thở, giao hợp dục là không thể được. Theo cùng cách này, samadhi hay
cực lạc là không thể được chừng nào kundalini này còn chưa bị đập và bị kích
thích bởi việc thở.
Samadhi là đỉnh, điểm cao nhất của năng lượng
đi lên, và dục hành động như điểm thấp nhất, điểm thấp nhất của năng lượng đi
xuống. Nhưng việc thở làm việc tương đương theo cả hai hướng.
Thử điều đó đi. Nếu tâm trí bạn đầy dục, thảnh
thơi việc thở của bạn, làm chậm dần nhịp của nó. Hay nếu tâm trí đang trong nắm
bắt của giận dữ hay bất kì ham muốn dục nào, làm chậm nhịp thở, thảnh thơi nó,
và bạn sẽ thấy dục, giận dữ, hay bất kì cái gì, đều rời bỏ bạn. Chúng đơn giản
không thể kéo dài được, bởi vì năng lượng duy trì chúng tới qua việc thở. Không
được kích thích bằng việc thở, năng lượng này không thể làm việc được. Do đó
không ai có thể giận dữ nếu người đó giữ việc thở của mình chậm, vững chắc và
được thảnh thơi. Và điều đó sẽ là phép màu, không gì ngoài phép màu tuyệt đối,
nếu người ta có thể giận dữ trong khi thở theo cách rất chậm và thảnh thơi.
Điều đó là không thể được. Giận dữ biến mất ngay khi việc thở được làm chậm lại
và thảnh thơi. Mà người ta cũng không thể bị kích động dục trong trạng thái thở
chậm và thảnh thơi. Ham muốn dục biến mất với việc làm chậm hơi thở. Cho nên
làm chậm lại và thảnh thơi việc thở của bạn khi tâm trí đầy dục hay giận dữ hay
bất kì ham muốn nào khác.
Và khi tâm trí bạn bị khao khát, thèm muốn về
thiền chiếm giữ, hãy tăng tốc nhịp thở của bạn và gõ vào kundalini bằng thở
sâu. Bởi vì với khao khát này bên trong và việc gõ vào thở, năng lượng chắc
chắn bắt đầu cuộc hành trình thiền.
Thở sâu có tác động sâu sắc lên kundalini.
Pranayama, khoa học về việc thở yoga, không phải đã được phát hiện ra một cách
không cần thiết. Qua những thực nghiệm lâu dài và điều tra và qua việc kéo dài
những kinh nghiệm người ta biết rằng rất nhiều điều có thể được thực hiện với
sự giúp đỡ của việc thở và việc gõ vào kundalini. Thực sự nhiều điều có thể
được thực hiện qua thở sâu và nhanh. Và việc gõ càng mạnh và nhanh, càng làm
cho chuyển động của năng lượng nhanh. Và chừng nào còn có liên quan tới người
bình thường chúng ta, những người có kundalini còn ngủ trong vô số kiếp, nhu
cầu về việc gõ mạnh, gõ bằng tất cả mọi sức mạnh của chúng ta còn lớn hơn
nhiều.
Việc thở đập vào kundalini, trung tâm cơ bản
của năng lượng. Và khi kinh nghiệm của bạn sâu sắc hơn bạn sẽ thấy rõ ràng ngay
cả khi nhắm mắt đích xác chỗ mà việc thở đập vào. Cho nên điều thường xảy ra là
với việc gõ mạnh qua thở sâu người ta bị khuấy động về dục. Điều đó xảy ra
thường xuyên thế bởi vì thân thể bạn chỉ quen với kinh nghiệm này, kinh nghiệm
về dục qua thở sâu. Cho nên theo thói quen thân thể bắt đầu đi theo hướng quen
thuộc của dục bất kì khi nào bạn thở sâu và nhanh. Và đó là lí do tại sao nhiều
người tìm kiếm - cả đàn ông lẫn đàn bà - đều có cảm giác rằng thở sâu kích
thích ngay vào trung tâm dục của mình.
Nhiều người đã có kinh nghiệm tương tự với sự
hiện diện của Gurdjieff, và điều đó cũng là tự nhiên. Nhiều đàn bà nghĩ rằng
ngay khi họ tới ông ấy, thì trung tâm dục của họ bị đụng vào và bị kích thích.
Điều này là tự nhiên. Nhưng bởi vì điều đó mà Gurdjieff đã bị hiểu lầm nhiều và
bị phỉ báng; mặc dầu ông ấy không có lỗi chút nào. Điều đáng trách không nằm ở
nhà ông ấy. Sự kiện là ở chỗ các rung động xung quanh người có kundalini được
thức dậy, mạnh tới mức họ bắt đầu ảnh hưởng tới kundalini của bạn ngay khi bạn
lại gần người đó. Và vì kundalini riêng của bạn ngủ gần trung tâm dục, nên
những rung động của người đã thức tỉnh đập vào bạn tại trung tâm dục của bạn.
Đó là cách nó đã xảy ra tại lần tiếp xúc đầu tiên.
Việc thở sâu và nhanh nhất định có tác động
sâu sắc lên kundalini. Và tất cả các trung tâm, điều bạn gọi là các luân xa,
thì không là gì ngoài những chỗ dừng cho kundalini trên cuộc hành trình của nó.
Đây là những trung tâm mà kundalini sẽ đi qua. Thông thường có nhiều trung tâm
như thế và có những ước lượng khác nhau về chúng. Nhưng nói một cách đại thể,
bẩy trung tâm quan trọng nhất nơi kundalini, khi đi lên và xuống, rất có thể
dừng lại và nghỉ một chốc. Và nó sẽ có tác động của nó khi nó tiếp xúc với
những chỗ này. Và những tác động đầu tiên của nó sẽ được cảm nhận ở trung tâm
là trung tâm hoạt động nhiều nhất của bạn. Chẳng hạn, nếu một người thường
xuyên làm việc bằng bộ não, thì với việc thở sâu đầu người đó sẽ trở nên rất
nặng. Nó sẽ là như vậy bởi vì trung tâm não người đó ngẫu nhiên là trung tâm
hoạt động nhất của người đó. Tác động đầu tiên của việc thở sẽ được cảm thấy
trên đầu người đó, trung tâm hoạt động của người đó, và nó sẽ trở thành nặng.
Và nếu người đó dâm dục, thì trung tâm dục của người đó sẽ bị kích thích ngay
lúc đầu tiên. Tương tự một người đàn ông đang yêu sẽ thấy tình yêu của mình
được kích thích, được nâng cao và tuôn chảy. Và nếu một người xúc động, xúc
động của người đó sẽ được tăng thêm.
Cho nên trung tâm hoạt động nhất sẽ bị đập vào
và bị kích thích trước hết bởi việc thở sâu và nhanh. Nhưng chẳng mấy chốc nó
bắt đầu ảnh hưởng tới các trung tâm khác nữa. Và tương ứng với thay đổi này,
biến đổi về nhân cách cũng bắt đầu đồng thời. Bạn sẽ bắt đầu biết rằng bạn đang
thay đổi; bạn không là cùng người bạn đã là cho tới bây giờ.
Chúng ta không biết rằng có rất nhiều khả năng
bên trong từng người chúng ta. Chúng ta quen thuộc chỉ với trung tâm của mình,
cái hoạt động và ngủ và là nơi chúng ta tồn tại. Cho nên khi trung tâm khác mở
ra thì dường như là nhân cách cũ của chúng ta mất đi và con người mới đã xuất
hiện vào chỗ của nó. Hay dường như là chúng ta bây giờ không là cùng người như
chúng ta trước đây. Điều đó tựa thế này: tôi nhận biết chỉ một căn phòng trong
ngôi nhà nơi tôi sống, và tôi mang dấu ấn của căn phòng này trong tâm trí tôi.
Rồi bỗng nhiên một hôm một cánh cửa mở ra và căn phòng khác xuất hiện trước
tôi. Thế rồi toàn thể bản đồ tâm trí tôi về ngôi nhà sẽ trải qua thay đổi. Bây
giờ ngôi nhà mà tôi đã nghĩ là của tôi sẽ là ngôi nhà rất khác, và tôi sẽ cần
thu xếp lại nó một lần nữa.
Cho nên các trung tâm khác sẽ bị đập vào và
được kích hoạt, các chiều hướng mới của cuộc sống của bạn sẽ bắt đầu bộc lộ và
tự biểu hiện chúng. Và khi tất cả những trung tâm này sẽ được kích hoạt cùng
nhau - tức là khi năng lượng sẽ tuôn chảy đều qua tất cả chúng - lần đầu tiên
chúng ta sống một cuộc sống toàn thể; chúng ta sẽ sống một cách toàn bộ.
Thông thường không ai sống một cách toàn thể,
toàn bộ cả; tất cả chúng ta đều sống cuộc sống manh mún. Tất cả các trung tâm
phía trên của chúng ta vẫn còn không được động tới. Cho nên thở sâu sẽ đập vào
và kích hoạt tất cả chúng.
Và câu hỏi "Tôi là ai?" làm cùng điều
đó; nhưng nó gõ búa vào các trung tâm này từ hướng khác. Cho nên cố gắng hiểu
nó đi, như bây giờ các bạn hiểu chức năng của việc thở sâu và nhanh. Làm sao
việc tụng "Tôi là ai?" có tác động lên kundalini?
Các bạn không biết tại sao khi các bạn nhắm
mắt và hình dung ra bức tranh đàn bà trần truồng, thì trung tâm dục của các bạn
lập tức bị kích động. Các bạn mới chỉ hình dung thôi và vậy mà trung tâm dục
của các bạn đã bị khuấy động rồi. Tại sao?
Trong thực tế, mọi trung tâm đều có tưởng
tượng riêng của nó, và nếu bạn tưởng tượng điều gì đó gần với nó, thì trung tâm
có liên quan này sẽ bị kích động ngay. Cho nên ngay khi các bạn nghĩ và tưởng
tượng về dục, trung tâm dục của các bạn bắt đầu làm việc; các bạn bị kích động
về dục.
Và các bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng trong
vấn đề này người đàn bà thực trần truồng có thể không gây kích động và có hiệu
quả như ý nghĩ về cô ấy. Lí do là ở chỗ ý nghĩ về đàn bà trần truồng sẽ đưa bạn
vào tưởng tượng của mình mà nó sẽ bắt đầu đập vào trung tâm dục ngay lập tức và
mạnh mẽ. Nhưng người đàn bà thực trần truồng không thể đưa bạn vào tưởng tượng
được, vì cô ấy ở ngay trước bạn, cô ấy gần gũi thế. Cho nên cô ấy sẽ ảnh hưởng
tới bạn chỉ tới mức độ như một vật gần cạnh có thể tác động. Trong khi người
đàn bà thực đập vào bạn từ phía trước, thì người đàn bà tưởng tượng sẽ đập vào
bạn từ bên trong. Và cú đánh từ phía trước không thể mạnh và sâu như cú đánh từ
bên trong. Do đó, có nhiều đàn ông tỏ ra bất lực trước đàn bà thực nhưng rất có
khả năng giao hợp trong tưởng tượng; không có chỗ hết cho tiềm năng tưởng tượng
của họ. Bởi vì cuộc công kích của tưởng tượng chạm tới trung tâm của bạn từ bên
trong, trong khi cuộc công kích từ phía trước của người đàn bà thực không thể
chạm được vào bạn từ bên trong; nó chạm trực tiếp vào bạn từ bên ngoài. Và bởi
vì đàn ông sống trong tâm trí của mình, cho nên người đó có thể làm việc trên
những trung tâm này hiệu quả hơn qua tâm trí.
Cho nên khi bạn hỏi, "Tôi là ai?"
thì bạn đang nêu ra việc hỏi, bạn đang đưa ra câu hỏi về mặt tâm trí. Câu hỏi này
sẽ chạm vào trung tâm nào? Nó nhất định chạm vào trung tâm nào đó. Khi bạn hỏi
câu hỏi này, khi bạn truy vấn mình là ai, khi bạn tràn đầy với khao khát này để
biết, khi mọi thớ thịt của bạn hỏi, "Tôi là ai?" bạn đang đi vào bên
trong; và chắc chắn trung tâm nào đó bên trong bạn sẽ bị đập vào và được nó
kích hoạt.
Nhưng bởi vì "Tôi là ai?" là câu hỏi
các bạn chưa bao giờ hỏi cả, nên nó sẽ không đánh vào bất kì trung tâm nào bạn
đã biết và đang kích hoạt. Đây là câu hỏi các bạn chưa bao giờ tự hỏi bản thân
mình, đây là việc truy vấn các bạn chưa bao giờ tiến hành. Các bạn chưa bao giờ
được rót đầy với khao khát để biết mình là ai. Các bạn vẫn thường hỏi,
"Anh ấy là ai? Cô ấy là ai?" và những câu hỏi như thế này; nhưng các
bạn chưa bao giờ hỏi "Tôi là ai?" "Tôi là ai?" đã là một
câu hỏi chưa được hỏi lâu thế. Và do đó nó sẽ đánh vào một trung tâm hoàn toàn
chưa được biết tới mà bạn chưa hề chạm tới. Và trung tâm chưa biết đó, mà câu
hỏi này "Tôi là ai?" định đập vào, là rất cơ bản - bởi vì bản thân
câu hỏi này là rất cơ bản.
"Tôi là ai?" là câu hỏi rất nền tảng
và là câu hỏi rất mang tính tồn tại. "Tôi là ai?" là câu hỏi bao gồm
tính toàn bộ của sự tồn tại của chúng ta trong tất cả mọi chiều sâu và chiều
cao của nó. Câu hỏi này sẽ đem tôi tới nơi đã ở trước khi tôi được sinh ra,
đằng sau mọi kiếp sống quá khứ của tôi. Câu hỏi này có thể đem tôi tới nơi tôi
đã ở lúc bắt đầu sơ khai. Tính sâu sắc của câu hỏi này là vô hạn. Và chính cuộc
hành trình của nó cũng sâu sắc như vậy. Do đó, câu hỏi này sẽ lập tức đánh vào
trung tâm cơ sở, trung tâm sâu nhất - kundalini.
Thở sâu đánh vào trung tâm này về mặt thể
chất, còn câu hỏi "Tôi là ai?" làm cùng công việc đó về mặt tinh
thần, về mặt tâm lí. Câu hỏi này gõ búa vào kundalini bằng năm lượng tinh thần
còn thở sâu gõ búa vào nó bằng năng lượng thân thể. Và nếu cả hai chiếc búa đều
gõ đủ mạnh... Thông thường chỉ có hai cách để gõ búa vào trung tâm này - một
cách qua việc thở và cách kia qua việc hỏi "Tôi là ai?" Cũng có những
cách khác nữa, nhưng chúng có chút ít phức tạp.
Người khác cũng có thể có ích trong vấn đề
này. Nếu bạn làm nó trong sự hiện diện của tôi thì hiệu quả sẽ nhanh hơn và lớn
hơn, bởi vì thế thì sẽ có việc gõ búa từ hướng thứ ba mà bạn chẳng có ý tưởng
gì cả. Đó là hướng tinh tú với việc gõ búa còn tinh tế hơn việc gõ về tinh thần
và thể chất. Khi các bạn thở mãnh liệt, nó gõ búa vào trung tâm này theo mặt
thể chất. Khi các bạn hỏi "Tôi là ai?" nó làm cùng việc đó về mặt
tinh thần. Và khi các bạn làm nó trong sự hiện diện của người khác mà qua người
đó thể tinh tú của bạn bị gõ búa vào, cuộc hành trình thứ ba bắt đầu. Cho nên
nếu năm mươi người thiền ở đây cùng nhau, nó sẽ mãnh liệt hơn nhiều nếu chỉ một
người thiền. Bởi vì khao khát của năm mươi người tổ hợp với những rung động của
việc thở mãnh liệt của họ, bầu không khí tinh tú sẽ tràn ngập căn phòng này, và
một loại sóng ánh sáng điện mới sẽ bắt đầu luân chuyển khắp xung quanh, điều sẽ
đập vào bạn từ hướng khác.
Nhưng thông thường các bạn chỉ có hai cách
trực tiếp - một là thể chất và cách kia là tinh thần. Cho nên "Tôi là
ai?" sẽ đập mạnh hơn; nó sẽ đập mạnh hơn thở sâu. Nhưng chúng ta bắt đầu
với việc thở, bởi vì đó là từ thân thể và dễ dàng thực hiện. Việc hỏi "Tôi
là ai?" có chút ít khó khăn hơn, vì nó là từ tâm trí. Chúng ta bắt đầu với
thân thể và khi thân thể bắt đầu rung động đầy đủ, nó chuẩn bị cho tâm trí để
hỏi câu hỏi "Tôi là ai?" Tình huống đúng cần có cho việc hỏi này. Sẽ
chẳng có gì tốt nếu hỏi mà không có chuẩn bị trước, "Tôi là ai?" vào
bất kì lúc nào và mọi lúc.
Trong thực tế, mọi câu hỏi đều cần một tình
huống đúng để nó có thể được hỏi. Chẳng hạn, khi thân thể bạn bắt đầu rung và
lắc, một câu hỏi tự động nảy sinh và bạn tự hỏi mình, "Tất cả điều này là
gì vậy? Làm sao tôi đang làm thế này?" Và thế rồi bạn biết rằng bạn đang
không làm gì cả, bạn không giơ chân mình lên mà cũng không quay đầu và nhảy
múa; ấy vậy mà điệu vũ vẫn đang xảy ra. Và nếu tất cả điều này xảy ra mà không
có nỗ lực của bạn, thì sự đồng nhất của bạn với thân thể bắt đầu chùng ra. Thế
thì một câu hỏi mới nảy sinh trước bạn, bạn muốn biết mình là ai. Câu hỏi mới
này là ở chỗ nếu thân thể không phải là việc làm của bạn, thế thì ai khác làm
nó, và bạn là ai. Bây giờ sự phân li, một lỗ hổng được tạo ra giữa bạn và thân
thể bạn.
Đây là tình huống đúng, khi mà qua lỗ hổng này
câu hỏi "Tôi là ai?" có thể chìm vào sâu trong bạn. Nó chính xác là
cơ hội này khi việc hỏi câu hỏi này trở thành cần thiết. Thực sự mọi câu hỏi
đều có thời điểm đúng, mùa vụ đúng riêng của nó. Và điều rất quan trọng là tìm
ra đúng mùa vụ cho câu hỏi này "Tôi là ai?" Đấy không phải là câu hỏi
để được hỏi theo cách ứng khẩu; nó không thể được hỏi vào bất kì thời điểm nào
mà không có sự chuẩn bị. Nếu, khi ngồi ở đây, các bạn hỏi một cách tình cờ
"Tôi là ai?" nó sẽ mất tăm mất tích trong không trung; nó sẽ không
đạt tới đâu cả. Một lỗ hổng, một lối mở trong bạn là cần thiết để từ đó câu hỏi
này có thể thấm sâu vào bạn. Lối mở là điều phải có.
Với việc gõ búa liên tục vào hai điều này -
thở sâu và "Tôi là ai?" - kundalini sẽ thức dậy. Và với việc thức dậy
của nó, những kinh nghiệm phi thường sẽ bắt đầu xảy ra; bởi vì tất cả mọi kinh
nghiệm của tất cả các kiếp sống quá khứ của bạn đều được liên kết với kundalini
- theo cách chúng được lắng đọng ở đó. Các kinh nghiệm của bạn về vô hạn kiếp
sống, kể cả các kiếp sống là cây, là cá, là chim, những kinh nghiệm mà bạn đã
trải qua trong toàn thể quá trình tiến hoá của bạn đều nằm trải trên con đường
hành trình của bạn. Và quyền năng rắn này được biết như là kundalini đã hấp thu
tất cả chúng. Do đó nhiều loại điều có thể xảy ra và bạn có thể đồng nhất bản
thân mình với những kinh nghiệm này. Bất kì loại sự việc nào, những sự việc
không thể nghĩ nổi, cũng đều có thể xảy ra. Bạn không có ý tưởng nào về nhiều
kinh nghiệm tinh tế được liên kết với kundalini.
Chẳng hạn, có một cây đang đứng trong vườn, và
một cơn gió mạnh và mưa to vừa mới quét qua khu vườn. Cách thức mà cây này đã
kinh nghiệm và biết về gió và mưa là đặc biệt của riêng nó; chúng ta không biết
mà bất kì ai khác cũng chẳng biết điều đó. Cách thức cây này đã biết về cơn mưa
đó, chúng ta không bao giờ có thể biết được nó. Làm sao chúng ta có thể biết
được nó? Điều đó là không thể được. Cho dù chúng ta có đứng gần cây đó, chúng
ta vẫn không thể kinh nghiệm được điều đó theo cách cây này kinh nghiệm điều
đó. Chúng ta có thể biết điều đó duy nhất theo cách chúng ta có khả năng biết
điều đó.
Nhưng ở một giai đoạn nào đó trong quá trình
cuộc hành trình cuộc đời của chúng ta, bạn phải đã từng là cây nữa. Bây giờ nếu
kundalini, khi bạn đang thở và hỏi "Tôi là ai?" mà đạt tới chỗ kinh
nghiệm của bạn như cây đã được lắng đọng lại, bạn bỗng nhiên đi tới biết điều
đích xác như cây này đã biết khi trời mưa. Bạn sẽ thực sự biết rằng trời mưa.
Và thế thì bạn sẽ hoảng sợ, rất kinh hoàng, và bạn sẽ tự hỏi tất cả điều này là
gì. Và chỉ thế thì bạn mới hiểu tại sao đôi khi bạn cảm thấy thích đại dương và
đôi khi bạn thích gió, và bạn sẽ trải qua cùng những kinh nghiệm này như đại
dương và gió đã trải qua. Và kết quả của điều đó là khả năng thẩm mĩ của bạn và
nhiều khả năng khác, mà bạn chẳng có ý tưởng gì về chúng là bất kì cái gì, sẽ
bắt đầu tự chúng hiển lộ ra.
Có một bức tranh của Van Gogh trong đó cây,
một cây cao lắm, vươn thẳng lên trời. Cây này mọc cao tới mức nó đã bỏ xa các
ngôi sao, kể cả mặt trời và mặt trăng, bỏ xa đằng sau nó, thấp hơn nó nhiều.
Các vì sao, mặt trời và mặt trăng, tất cả chúng đều có vẻ như những vật tí hon
mờ nhạt dưới gốc cây này, ở gần trái đất, trong khi cây đơn độc này vươn cao
hơn và cao hơn vào vô hạn. Ai đó nói với Van Gogh, "Ông điên mà đi vẽ cây
như thế. Cây có bao giờ mọc được cao đến mức mà sao nằm ở dưới nó không?"
Van Gogh nói, "Có lẽ ông chưa bao giờ biết cây; ông chưa bao giờ thấy bên
trong của cây. Nhưng tôi biết cây này từ bên trong nó; tôi biết nó theo chiều
sâu. Nó là nhỏ bé vụn vặt nếu nó không thể vượt ra ngoài mặt trăng và mặt trời
và các vì sao trên trời, nhưng tất cả đều là một, chắc chắn mọi cây dài đều làm
như vậy. Chẳng liên quan gì việc cây không thể vượt qua được chúng; tất cả đều
như nhau điều đó là khát khao của nó, thèm muốn cái mênh mông. Điều đó đúng,
tôi thậm chí không thể nghĩ được về nó. Chính giới hạn của nó là cây không thể
mọc cao đến đó, nhưng tôi biết cách thức tâm linh của nó, bản thể của nó bao
giờ cũng tung cánh lên ngày một cao hơn và đạt tới những miền trời cao nhất."
Van Gogh thường nói, "Cây là khao khát
của đất để đạt tới trời. Cây là ham muốn thực sự của đất; qua nó đất đang trải
rộng bàn tay của nó để chạm vào trời."
Qua kundalini chúng ta sẽ biết mưa theo cách
cây biết nó, ngay cả chúng ta sẽ biết nó một cách rõ ràng như cây biết. Nhưng
tất nhiên, chúng ta đã từng là cây và nhiều điều khác nữa. Và vì vậy bất kì cái
gì cũng có thể xảy ra trong thiền. Ngoài điều này, chúng ta sẽ bắt đầu có những
thoáng nhìn về tiềm năng tương lai của mình. Chúng ta sẽ không chỉ biết rằng
chúng ta đã từng hiện hữu trong quá khứ, chúng ta cũng sẽ đi tới biết rằng điều
chúng ta có thể là trong tương lai.
Và sau khi chúng ta đã đi vào con đường của
kundalini, sau khi chúng ta đã tham gia vào cuộc hành hương của nó, thì lịch sử
của chúng ta như lịch sử của một cá nhân đi tới chỗ chấm dứt, và lịch sử của
tâm thức, tâm thức toàn thể bắt đầu. Aurobindo hay nói dưới dạng này, và điều
đó là khó, việc này không thể rất rõ ràng. Thế thì đấy không phải là lịch sử
của một cá nhân, đấy là lịch sử của bản thân tâm thức. Thế thì bạn không một
mình, bạn được gắn với tất cả cái vô hạn đã xảy ra trong quá khứ và cũng với
tất cả cái vô hạn sẽ xảy ra trong tương lai. Thế thì toàn thể cái vô hạn sẽ ở
trong bạn. Nó giống như hạt mầm nguyên thuỷ đã tự hiển lộ bản thân mình, cái
liên tục không dùng thể hiện bản thân nó, và dường như không có kết thúc cho
nó. Và khi bạn sẽ thấy cái vô giới hạn của mình mở rộng, mở rộng không có bắt
đầu và không có kết thúc, mở rộng với cái vô hạn đằng sau nó và cái vô hạn đằng
trước nó, thế thì trạng thái của bạn sẽ khác hẳn, thế thì mọi thứ về bạn sẽ
trải qua thay đổi bể dâu.
Và toàn thể mọi điều đã trải qua đều nằm ẩn
trong kundalini.
Thế thì nhiều màu sắc mới sẽ xuất hiện trước
bạn mà bạn chưa bao giờ thấy trước đây. Trong thực tế, các bạn sẽ thấy không có
nhiều màu sắc mấy ở bên ngoài như có ở bên trong bạn, khi bạn đi tới kinh
nghiệm này. Bởi vì trong quá trình của cuộc hành trình vô hạn của cuộc sống các
bạn đã biết những màu sắc này từ mọi thời gian và theo những cách thức hoàn
toàn khác. Chiếc diều lang thang trên trời thấy màu sắc theo một cách, và chúng
ta ở đây trên mặt đất thấy cùng màu đó theo cách hoàn toàn khác. Nếu các bạn đi
vào lùm cây các bạn sẽ thấy chỉ một màu, màu lục. Nhưng nếu một hoạ sĩ đi vào
cùng lùm cây đó, ông ấy sẽ thấy cả nghìn lẻ một màu. Màu lục không chỉ là một
màu; có cả nghìn sắc thái cho nó. Và thậm chí không có hai sắc thái nào là như
nhau; mỗi sắc thái đều duy nhất; nó có tính cá nhân riêng của mình. Với chúng
ta màu lục đơn giản là màu lục; tại đó vấn đề chấm dứt. Chúng ta có khái niệm
rộng và thô và tổng quát hoá về màu lục; chẳng có gì nhiều hơn cho nó. Nhưng
thực tại của nó hoàn toàn khác với điều chúng ta biết. Màu lục không phải là
một màu; thực tế nó là cả nghìn màu. Và mọi màu đều có cả nghìn màu bên trong
nó. Cho nên khi bạn đi vào bên trong bản thân mình, bạn sẽ trải qua hàng nghìn
kinh nghiệm rất đẹp, tinh tế và hiếm hoi.
Trong vấn đề cảm nhận giác quan, con người là
sinh linh yếu đuối và nghèo nàn; con vật và chim chóc còn cao cấp hơn con người
nhiều. Giác quan của con vật và chim chóc rất mạnh; nhạy cảm của chúng đơn giản
là sâu sắc - cả về chiều cao và chiều sâu. Điều chúng thiếu là ở chỗ chúng
không thể biết một cách có ý thức và nghĩ về điều đó. Nhưng nhạy cảm của chúng,
tỉnh táo của chúng, kinh nghiệm của chúng dù sao cũng rất sâu sắc và sâu lắng.
Có loài chim, loài chim rất thông thường ở
Nhật Bản. Chim này rời làng chỗ nó ở hai mươi tư giờ trước khi động đất làm
rung chuyển làng này. Khi chim đó không còn được thấy ở đâu nữa trong làng, cư
dân của làng lập tức biết rằng động đất nhất định xuất hiện trong vòng hai mươi
tư giờ. Ngay cả với các thiết bị khoa học hiện đại mà chúng ta có, chúng ta
cũng không thể dự đoán được trận động đất sắp xảy đến trước hơn sáu giờ, và
thậm chí có thế thì cũng không tin cậy được như vậy. Nhưng dự đoán do loài chim
này thực hiện đúng một trăm phần trăm; nhạy cảm của chúng cao và sắc bén và
không thể sai được đến thế. Và những con chim này là bình thường và có nhiều
đến mức khi chúng biến mất, cả làng đều biết rằng động đất đang sắp xảy ra rồi.
Điều đó nghĩa là ngay cả những rung động cực kì tinh tế của trận động đất sắp
xảy ra cũng được loài chim này cảm nhận, và chúng rời bỏ làng đó.
Nếu bao giờ trong quá khứ lâu dài của mình bạn
đã từng là loài chim này, bạn sẽ cảm thấy những rung động như vậy trong quá
trình thực hành kundalini của mình, điều bạn chưa bao giờ cảm thấy. Nhưng trong
thực tế bạn đã kinh nghiệm chúng trước rồi, nhưng bạn không nhớ chúng. Chẳng
cái gì xảy ra trong quá trình thức dậy của kundalini mà đã không từng xảy ra
trước đây trong các kiếp sống quá khứ của bạn. Cho nên bạn sẽ thấy những màu mà
bạn chưa bao giờ thấy. Bạn sẽ nghe thấy âm thanh bạn chưa bao giờ nghe thấy.
Kabir gọi nó là naad, hay âm thanh tinh tế.
Kabir nói, "Nhảy múa đi, sư, nước cam lồ
đang mưa xuống." Và sư này hỏi, "Trời mưa ở đâu?" Bây giờ cơn
mưa nước cam lồ này của Kabir không xảy ra ở bên ngoài; nó là kinh nghiệm bên
trong. Kabir cũng nói, "Nghe đây, sư, âm thanh naad của chiếc trống lớn."
Và sư này muốn biết nó là gì. Họ không nghe thấy bất kì âm thanh nào, mặc dầu
những lời kêu gọi lặp lại của Kabir với họ để nghe nó. Các bạn nữa, cũng có thể
nghe thấy những âm thanh đó mà Kabir đã nghe thấy. Các bạn cũng có thể kinh
nghiệm những trạng thái khẩu vị mà bạn chưa bao giờ kinh nghiệm trước đây.
Cho nên một thế giới bao la các cảm giác và
kinh nghiệm tinh tế được móc nối với kundalini. Tất cả các cảm giác và kinh
nghiệm của nó sẽ trở nên sống động và thức dậy và đương đầu với bạn từ mọi
hướng. Đó là lí do tại sao, trong tình huống như vậy, người ta thường trông như
người điên. Bởi vì khi chúng ta ngồi yên tĩnh, người đó bỗng nhiên bộc phát
cười to vì người đó đi tới thấy cái gì đó mà chúng ta không thấy. Và người đó
có thể bỗng nhiên bắt đầu la hét vào lúc chúng ta tất cả đều cười, bởi vì điều
gì đó có thể đã xảy ra cho người đó mà không xảy ra cho chúng ta.
Cho nên thông thường chỉ có hai cách gõ búa
lên kundalini. Và cách thứ ba là cách phi thường - cách của shaktipat, hay việc
truyền năng lượng. Đây là cách tinh tú, và nó cần một trung gian, một phương
tiện. Bạn có thể đạt tới sự mãnh liệt trong thiền chỉ nếu người khác giúp bạn.
Người khác không phải làm gì cả; chỉ sự hiện diện của người đó là đủ. Người đó
trở thành phương tiện, tác nhân xúc tác.
Năng lượng vô hạn thấm đẫm khắp thế giới. Vấn
đề chỉ là rút nó ra. Bây giờ chúng ta gắn một cọc sắt vào nóc nhà để cho khi
sét đánh vào nhà thì nó truyền qua cọc này và chìm vào lòng đất, và ngôi nhà
vẫn không bị tổn hại gì. Sét có thể đánh vào nhà ngay cả khi thiếu cọc sắt,
nhưng thế thì nó sẽ phá huỷ cả ngôi nhà. Nhưng cọc sắt là khám phá mới đây, còn
sét đã có đó từ thời thượng cổ. Việc truyền dẫn sét đã có đó từ lâu rồi, nhưng
chúng ta gần đây mới nghĩ tới cái cọc này.
Con người được bao quanh mọi phía bởi năng
lượng vô hạn, điều có thể được dùng cho sự phát triển tâm linh của người đó.
Năng lượng vô hạn có đó và tất cả nó có thể được dùng cho việc nâng cao tâm
linh của con người. Tuy nhiên để làm điều này, một trung gian, một phương tiện
là cần phải có. Bạn có thể là trung gian riêng của mình, nhưng ban đầu điều đó
có thể nguy hiểm. Shaktipat, bụi phóng xạ của năng lượng, có thể mạnh tới mức
bạn có thể không chịu đựng được nó. Có khả năng là những giác quan tinh tế nào
đó của thân thể bạn bị tắc lại hay chúng bị phá hỏng. Mọi năng lượng đều có
chừng mực, có điện thế phải ở vào đúng tỉ lệ với khả năng của bạn để chịu đựng
được nó. Việc thông qua người khác làm trung gian có tác dụng như một công cụ
điều chỉnh năng lượng trong mối quan hệ của nó với khả năng chịu đựng của bạn.
Để hành động như một phương tiện cho shaktipat
điều bản chất là năng lượng thiêng liêng đã giáng lên người khác. Chỉ thế thì
người đó mới có thể trù tính và đảm đương được shaktipat theo khả năng của bạn.
Và người đó không cần phải làm gì cả đối với vấn đề này; đơn thuần sự hiện diện
của người đó làm mọi điều cần thiết. Sự hiện diện là tất cả những gì cần thiết.
Sự hiện diện của người đó hành động như tác nhân xúc tác; bản thân người trung
gian không làm gì cả. Cho nên nếu ai đó công bố rằng mình có thể làm điều gì
đó, người đó hoàn toàn sai. Không ai có thể làm được shaktipat, nhưng sự hiện
diện của ai đó có thể làm xúc tác cho điều đó, làm cho nó xảy ra.
Bây giờ tôi nghĩ rằng khi người tìm kiếm đạt
tới chiều sâu nào đó trong thiền, shaktipat sẽ bắt đầu xảy ra ở đây với toàn
lực. Không có khó khăn gì về điều đó cả; không khó chút nào. Không ai cần phải
làm gì cả; điều đó sẽ xảy ra theo cách riêng của nó. Bạn bỗng nhiên sẽ thấy
rằng một loại năng lượng hoàn toàn khác đã đi vào bạn từ bên ngoài; nó không tới
từ bên trong bạn. Bất kì khi nào bạn kinh nghiệm việc dâng lên của kundalini,
thì dường như nó dâng lên từ bên trong bạn; còn bất kì khi nào bạn kinh nghiệm
shaktipat, thì nó sẽ dường như tới từ bên ngoài, từ bên trên. Nó sẽ là như vậy.
Nó sẽ được cảm thấy rõ ràng như người ta cảm thấy nước rơi xuống mình từ trên
cao và nước dâng lên với người đó từ bên dưới.
Kinh nghiệm về kundalini cũng tựa như việc
chìm ngập, dường như bạn đang đứng trong lòng sông và mức nước dâng lên từ bên
dưới và bạn đang bị chìm ngập trong nó. Kinh nghiệm về kundalini bao giờ cũng
giống thế này - bao giờ cũng giống thế này - kinh nghiệm về việc bị chìm ngập
trong dòng sông. Bạn sẽ cảm thấy rằng cái gì đó từ chiều sâu nào đó đang dâng
lên và bạn đang bị nhận chìm vào trong nó, chìm ngập vào trong nó. Nhưng kinh
nghiệm về shaktipat hoàn toàn khác; nó giống như mưa rơi từ trên trời, rơi từ
trên xuống. Đó là điều Kabir nói tới khi ông ấy nói, ''Hỡi các sư, nước cam lồ
đang mưa xuống,'' và các sư của ông ấy hỏi chỗ nào. Nó rơi từ bên trên và làm
bạn ướt sũng.
Bây giờ nếu cả hai quá trình này xảy ra cùng
nhau, nó sẽ tăng cường ngay tiến bộ của bạn. Thế rồi, đồng thời mưa sẽ rơi từ
bên trên và nước sông dâng lên từ bên dưới. Thế thì các biến cố mưa rơi và dòng
sông đang làm lụt xảy ra đồng thời, và bạn bị nhấn chìm, bạn bị phá huỷ từ cả
hai đầu. Cả hai quá trình này có thể xảy ra cùng nhau; không có khó khăn nào
hàm chứa trong đó.
Người hỏi: tác dụng của shaktipat chóng hết
hay nó kéo dài? Và một biến cố shaktipat có đủ để đưa chúng ta tới đích của
cuộc hành trình hay người ta còn cần nhiều hơn thế?
Sự kiện là ở chỗ hiệu quả kéo dài bắt nguồn từ
kundalini của riêng bạn; shaktipat chỉ là sự trợ giúp. Shaktipat không bao giờ
có thể tạo nên được cơ sở của bạn; nó không bao giờ trở thành cấu trúc cơ bản
của bạn được. Điều xảy ra bên trong bạn còn quan trọng hơn; nó là cơ bản, là
nền tảng. Đó mới là của cải thực của bạn. Một mình điều đó mới là của cải cơ
bản của bạn. Shaktipat sẽ không thêm của cải cho bạn, nhưng chắc chắn nó sẽ làm
tăng khả năng phát triển. Khác biệt này nên được hiểu đúng. Với shaktipat của
cải của bạn sẽ không tăng lên nhiều lần, nhưng cái được gọi là tỉ lệ tăng
trưởng, tỉ lệ mở rộng của nó chắc chắn sẽ được tăng lên cùng shaktipat.
Cho nên shaktipat không phải là của cải riêng
của bạn. Nó giống như thế này: bạn chạy và tôi đuổi theo bạn với khẩu súng
trong tay. Bây giờ khẩu súng của tôi không định làm tăng thêm sức chạy của bạn,
nhưng chắc chắn nó sẽ làm cho bạn chạy nhanh hơn. Chính bạn mới là người chạy
trong mọi biến cố; chính năng lượng của bạn mới dồn vào việc chạy. Nhưng bởi vì
khẩu súng này bạn sẽ đưa vào dùng ngay cả đến năng lượng vẫn nằm đó chưa được
dùng trong bạn. Khẩu súng không cung cấp cho bạn thêm năng lượng nào; nó cũng
không làm mất cho dù một giọt năng lượng riêng của bạn trong trò chơi này. Nếu
bạn xem xét khẩu súng về sau, bạn sẽ thấy nó vẫn hệt như trước đây; nó không
mất gì cả. Nhưng tác động của khẩu súng sẽ làm cho bạn chạy nhanh hơn, mãnh
liệt hơn và tốc độ chạy cao hơn. Nơi bạn đã đi dạo giải trí trước đây, bây giờ
bạn chạy và chạy và chạy nhanh.
Cho nên shaktipat không thêm của cải năng
lượng của bạn, nhưng chắc chắn nó làm tăng khả năng trưởng thành và mở rộng.
Shaktipat có tác động tựa như tia chớp. Tia
chớp không chiếu sáng con đường của bạn, nó không phục vụ bạn như cây đèn trong
tay bạn; nó chỉ cho bạn một chớp lóe, một thoáng nhìn về con đường phía trước
và những thứ bao quanh nó. Nhưng thoáng nhìn này rất quí giá; bây giờ chân bạn
vững chãi, bây giờ ý chí bạn mạnh mẽ, bây giờ quyết tâm của bạn để đạt tới định
mệnh của mình được tôi cứng. Bạn đã thấy con đường và bạn biết nó có đó và bạn
biết rằng bạn không vẩn vơ vô mục đích. Một tia chớp lóe và bạn có được một
thoáng nhìn về con đường bạn phải đi qua, và về ngôi đền là định mệnh của cuộc
hành trình của bạn. Và ngay khi ánh sáng mất đi và bạn bị nhận chìm vào trong
bóng tối đen ngòm; nhưng bây giờ bạn là con người khác, mặc dầu bạn đang đứng ở
cùng chỗ bạn đã ở trước khi tia chớp xảy ra. Bây giờ bạn tự tin, và bạn biết
bạn định tiến lên trước. Bây giờ bạn biết con đường có đó và ngôi đền, mặc dầu
vô hình, đã trong tầm tay. Bây giờ bạn cảm thấy được đảm bảo. Bây giờ bạn tin
tưởng và tin cậy, điều củng cố cho ý chí và quyết tâm của bạn.
Cho nên hiệu quả của shaktipat là gián tiếp,
và do đó bạn cần nó nhiều lần. Một lần là không đủ; tia chớp thứ hai sẽ làm lợi
cho bạn nhiều hơn, và tia chớp thứ ba còn nhiều hơn nữa. Điều bạn có thể đã bỏ
lỡ lần thứ nhất sẽ được thấy ở tia chớp thứ hai và thứ ba. Ít nhất chúng sẽ làm
mạnh thêm cho tin tưởng của bạn; chúng sẽ làm tăng cường ý chí của bạn.
Cho nên bạn không thể đạt tới được mục đích
tối thượng của mình qua shaktipat; chính bạn là người phải bước đi trên con
đường của mình tới định mệnh.
Thậm chí bạn có thể đạt tới mà không cần
shaktipat, nhưng thế thì sẽ mất nhiều thời gian hơn; bạn sẽ đạt tới về sau. Vì
thiếu tia chớp của shaktipat bạn sẽ kém tự tin hơn và bạn sẽ cần nhiều dũng cảm
và sức mạnh hơn. Hoài nghi và sợ hãi thỉnh thoảng sẽ túm lấy bạn; bạn sẽ không
chắc chắn về con đường của mình và định mệnh của nó. Tất cả mọi điều này sẽ xảy
ra; dù sao thì bạn cũng sẽ đạt tới mục đích của mình.
Nhưng shaktipat quả thực là sự giúp đỡ. Tôi
muốn rằng, nếu các bạn làm tiến bộ nào đó, thì shaktipat xảy ra cho một nhóm
đông người, thay vì cho một hay hai cá nhân vào mỗi lúc. Sao giới hạn điều đó
vào một hay hai cá nhân? Nó có thể xảy ra một cách tập thể cho mười nghìn người
đứng cùng nhau; không có khó khăn gì trong vấn đề này. Bởi vì thời gian tốn như
nhau dù điều đó được thực hiện cho một người hay mười nghìn người. Điều đó
không tạo ra khác biệt về bất kì cái gì.
Người hỏi: trong trường hợp việc tiếp xúc với người trung gian không được duy trì, liệu tác động của shaktipat có bị hao mòn đi không?
Tác động này nhất định là suy giảm đi chứ.
Trong thực tế, mọi tác động đều mòn mỏi đi dần dần. Bản thân tác động có nghĩa
là nó đã bị một tác nhân bên ngoài gây ra, và do vậy nó sẽ giảm dần đi. Nhưng
năng lượng phát sinh từ bên trong bạn thì ở lại, bởi vì nó là của riêng bạn.
Năng lượng tới từ bên ngoài nhất định giảm thiểu đi và biến mất. Nhưng điều tới
từ bên trong bạn không giảm thiểu đi; nó sẽ còn lại. Cũng năng lượng đó ở lại
sẽ dâng lên dưới tác động của shaktipat. Vốn cơ bản của bạn không hao mòn đi,
nhưng hiệu quả của nó thì có.
Người hỏi: Sẽ không có nguy hiểm rằng vốn năng
lượng cơ bản của chúng ta sẽ hao mòn đi cho dù chúng ta vẫn chơi với bạn xấu?
Vậy chúng ta sẽ không bị sa ngã từ chỗ cao của mình chứ?
Không có cách nào để sa ngã hay đi xuống. Điều
này thực sự cần được hiểu rõ ràng. Rất thú vị mà biết rằng không có cách nào để
đi xuống hay lùi lại. Bạn có thể được giúp đỡ để đi lên cao hơn từ chỗ bạn đã
đạt tới, cho dù việc đi lên của bạn từ đó có thể vẫn bị cản trở; nhưng không có
cách nào để kéo bạn xuống từ chỗ đó. Có lí do cho điều đó. Trong quá trình đi
lên của bạn, việc dâng lên của bạn, bạn đã thay đổi, và bạn đã trưởng thành, và
ngay cả một li của trưởng thành người đó cũng không thể xoá bỏ hay đảo ngược
lại được. Rút lui hay thoái ngược là điều không thể được trong cuộc sống.
Điều đó giống thế này: Chúng ta có thể giúp
cho đứa trẻ được lên lớp từ lớp một lên lớp hai; thầy kèm có thể tham gia vào
việc giúp cho nó trong vấn đề này. Nhưng bạn không thể tìm được thầy kèm nào có
thể làm cho đứa trẻ quên đi điều nó đã học ở lớp một. Tuy nhiên có khả năng là
sau khi lên lớp hai thì nó rơi vào một nhóm các bạn ngu và trong biến cố đó nó
bị cản trở cứ ở lại lớp mãi. Nhưng không bao giờ có khả năng là bạn ngu sẽ làm
cho nó phải trở lại lớp một. Điều đó không phải là như vậy sao? Cũng có khả
năng là nó bị giữ lại ở lớp hai suốt cả đời, có khả năng là nó không bao giờ
được phép lên lớp ba, nhưng không thể có khả năng đưa nó xuống lớp một. Nó sẽ
bị mắc kẹt; có thế thôi.
Trong cuộc sống tâm linh không có quay lại;
đấy bao giờ cũng là vấn đề tiến lên hay mắc kẹt. Và việc mắc kẹt này là điều
bạn gọi là sa ngã hay thoái lui. Nhưng thoái lui thực sự không xảy ra; điều tồi
nhất xảy ra trong tâm linh là trì trệ.
Người hỏi: có khác biệt gì giữa shaktipat và
ân huệ không?
Khác biệt là lớn lao, thực sự lớn. Trong thực
tế, có khác biệt lớn lao giữa shaktipat và ân huệ.
Shaktipat là một loại kĩ thuật có thể được lập
kế hoạch và quản lí. Shaktipat phải được lập kế hoạch và thao tác. Nó không thể
được mang tới vào bất kì lúc nào và ở bất kì đâu. Các bạn có hiểu điều tôi ngụ
ý không? Để shaktipat xảy ra, rất cần là người tìm kiếm phải ở vào trạng thái
đúng để cảm nhận nó và cần người trung gian cũng phải là người trung gian đúng.
Và khi cả hai điều kiện này được đáp ứng và chúng đồng bộ, thì shaktipat xảy
ra. Đây là vấn đề kĩ thuật.
Ân huệ tới không có mời chào, nó tới từ bóng
tối. Bạn không thể mời nó được, bạn không thể có nó theo mệnh lệnh được. Nó
không thể được lập kế hoạch, mà cũng không thể bị thao túng và quản lí. Nó là
biến cố xảy ra rất thỉnh thoảng, và xảy ra theo cách riêng của nó.
Khác biệt giữa shaktipat và ân huệ là kiểu như
khác biệt giữa điện trong nhà bạn và chớp trên bầu trời. Bạn nhấn nút ở đây và
ở kia sáng lên ngay lập tức; nhưng chớp của trời hoàn toàn khác. Chớp xảy ra
theo cách riêng của nó, bạn không thể có nó theo mệnh lệnh được, mặc dầu về cơ
bản đó là cùng một năng lượng vận hành trong cả điện và chớp. Trong khi điện
nhà bạn được điều khiển về mặt công nghệ - nó được kiểm soát bằng công cụ và kĩ
thuật - chúng ta không điều khiển được chớp. Ân huệ giống như chớp của trời. Nó
xảy ra vào khoảnh khắc bất ngờ và hiếm hoi. Và nếu người tìm kiếm ở đúng trạng
thái cảm nhận vào khoảnh khắc đó, thì ân huệ có thể xảy ra cho người đó. Và thế
thì chắc chắn nó không phải là shaktipat. Mặc dầu về cơ bản nó là cùng một năng
lượng như shaktipat, vậy mà nó vẫn là ân huệ - rất khác với shaktipat.
Có khác biệt nữa - rằng không cần người trung
gian để nhận ân huệ; ân huệ sẽ giáng xuống bạn theo cách trực tiếp. Nó không
cần người trung gian để đạt tới bạn; nó sẽ tới thẳng bạn. Và ân huệ bao giờ
cũng là việc xảy ra bất thần. Và nó là hiếm hoi, nó không xảy ra thường xuyên.
Và nó không thể được lập kế hoạch và thao tác như shaktipat. Tôi có thể nói
rằng nếu các bạn tới ngày hôm sau vào thời điểm cố định sau khi làm việc chuẩn
bị nào đó, thì shaktipat sẽ xảy ra. Nhưng tất cả những điều này là không liên
quan trong trường hợp của ân huệ. Nó có thể xảy ra, nó có thể không xảy ra. Nó
không ở trong tay chúng ta; nó không thể bị điều khiển, bị thao tác.
Ngoài khác biệt này, ân huệ là một với shaktipat.
Người hỏi: làm sao shaktipat có thể được lập kế hoạch nếu nó xảy ra chỉ trong trạng thái vô ngã?
Việc lập kế hoạch có thể được thực hiện trong
trạng thái vô ngã; bản ngã chẳng liên quan gì tới việc lập kế hoạch cả. Việc
lập kế hoạch vô ngã là tuyệt đối có thể được. Bản ngã là điều khác; nó là điều
hoàn toàn khác. Chẳng hạn, chúng ta lập kế hoạch rằng với sự chuẩn bị nào đó
chúng ta sẽ ngồi chờ shaktipat ngày mai vào lúc năm giờ sáng. Trong việc lập kế
hoạch này người tìm kiếm không bị yêu cầu phải vô ngã, nhưng người trung gian
thì phải vô ngã.
Vô ngã không phải là trạng thái nhất thời mà
bây giờ bạn vô ngã và bây giờ bạn không vô ngã. Nếu bạn vô ngã, bạn hiện hữu;
nếu bạn không vô ngã, bạn không hiện hữu. Nếu tôi vô ngã, tôi hiện hữu; nếu tôi
không vô ngã, tôi không hiện hữu. Không phải là mai vào lúc năm giờ tôi sẽ
trong trạng thái vô ngã. Điều đó là kì cục.
Làm sao nó có thể thế được? Không có cách nào
để như vậy được. Nếu tôi vô ngã ngay bây giờ, chỉ thế thì tôi mới vô ngã ngày
mai vào lúc năm giờ. Và tôi sẽ là như vậy, bất kể liệu tôi có lập kế hoạch hay
không lập kế hoạch, liệu tôi có xuất hiện hay không xuất hiện, liệu tôi có thức
hay ngủ vào khoảnh khắc đó. Nếu tôi vô ngã, tôi là nó. Nếu tôi không vô ngã,
tôi không là nó.
Vô ngã không phải là vấn đề về mức độ như
nhiệt độ thân thể, mặc dầu chúng ta vẫn thường nghĩ về mọi thứ dưới dạng mức
độ. Tất cả mọi việc suy nghĩ của chúng ta đều giống thế này. Nếu nhiệt độ thân
thể ai đó là chín mươi tám độ Fahrenheit (36 độ Celcius), chúng ta nói rằng người
đó là bình thường. Nhưng nếu nhiệt độ của anh ta lên tới chín mươi chín độ (37
độ Celcius) chúng ta nói là anh ta bị sốt, anh ta đang tăng nhiệt độ. Chín mươi
tám độ cũng là sốt, nhưng chúng ta gọi nó là sốt thường. Tại bậc thứ chín mươi
chín nó trở thành bất thường; trở lại chín mươi tám nó là bình thường. Chín
mươi tám độ cũng là sốt nhưng bởi vì mọi người đều có nhiệt độ như vậy, cho nên
nó được gọi là bình thường. Một sai lệch nhẹ từ những trường hợp thông thường
gây ra rắc rối.
Thông thường điều đó cũng hệt như với bản ngã
của chúng ta; nó là cơn sốt của chúng ta. Nếu ai đó có bản ngã theo cùng mức độ
như tất cả mọi người khác có, chúng ta nói rằng người đó là con người bình
thường, người tốt. Hơi lệch khỏi chín mươi tám độ thông thường - nếu người đó
chạm tới chín mươi chín độ của bản ngã, chúng ta nói ngay người đó là kẻ ích
kỉ, người đó cao ngạo. Và trong trường hợp ai đó tụt xuống chín mươi bảy độ,
chúng ta gọi người đó là người tuyệt đối khiêm nhường, một mahatma trọn vẹn,
một linh hồn rất vĩ đại.
Bản ngã và không bản ngã là những điều khác
nhau hoàn toàn; chúng là những trạng thái khác nhau. Chúng không liên quan tới
mức độ, với số lượng. Chúng không giống như trạng thái của sốt và không sốt;
chúng không được đo bằng chín mươi tám và chín mươi chín độ. Trong thực tế, chỉ
trong quan hệ với người chết chúng ta mới có thể nói rằng người đó không sốt.
Chừng nào còn có nhiệt thân thể, dù là bình thường hay bất thường, đó vẫn là
sốt. Đó vẫn là sốt với khác biệt là chín mươi tám độ là bình thường và chín
mươi chín độ là bất thường. Và nhiệt bất thường gây rắc rối về thể chất cho
chúng ta; chúng ta kinh nghiệm bệnh tật bởi điều đó.
Thế rồi có một góc độ khác cho bản ngã. Nếu
bản ngã của ai đó đụng chạm tới bản ngã chúng ta, chúng ta coi người đó là kẻ
bản ngã. Còn nếu bản ngã của ai đó làm thoải mái cho bản ngã chúng ta, tâng bốc
và xoa dịu bản ngã chúng ta, chúng ta nói người đó là người vô ngã. Nhưng cái
gì là phương tiện, là tiêu chuẩn để biết điều đó? Nếu một người tới tôi theo
cách ngạo mạn muốn làm cho tôi cảm thấy tầm quan trọng của người đó, chúng ta
sẽ gọi người đó là kẻ bản ngã. Nhưng nếu cùng người đó tới và chạm chân tôi,
chúng ta sẽ nói người đó khiêm tốn thế, tốt thế. Tiêu chuẩn nào có đó để kiểm
thử điều đó? Chúng ta chỉ có một cách kiểm thử về bản ngã: với chúng ta bản ngã
là điều quấy rối bản ngã riêng của chúng ta. Nếu ai đó làm tổn thương bản ngã
chúng ta, người đó là kẻ bản ngã, còn nếu người đó tâng bốc bản ngã chúng ta,
người đó là thánh nhân, là người khiêm tốn. Nhưng bao giờ đấy cũng là bản ngã
chúng ta được lấy làm phương tiện. Chính bằng bản ngã riêng của mình mà chúng
ta phán xét người khác là kẻ bản ngã hay không.
Đó là lí do tại sao chúng ta không biết trạng
thái thực của vô ngã. Làm sao chúng ta có thể biết nó được? Chúng ta biết cách
đo bản ngã theo mức độ, liệu nó nhiều hay ít. Nhưng nơi không có các mức độ,
chúng ta tự thấy mình đâm ra khó khăn để biết điều đó, để biết cái vô ngã.
Nhưng trong vấn đề shaktipat người trung gian
phải là vô ngã. Vô ngã không phải là từ đúng, cho nên tôi sẽ nói rằng chỉ người
không bản ngã mới nên là người trung gian. Và tâm niệm trong đầu rằng người như
vậy là người nhận ân huệ, rằng ân huệ đang mưa rào lên người đó cả hai mươi bốn
tiếng một ngày. Người đó sẽ đảm đương điều đó rằng bạn nữa cũng có nếm trải về
nó, nhưng chừng nào có liên quan tới người đó, thì nước cam lồ của ân huệ mưa
lên người đó hết ngày nọ tới ngày kia. Đó là cách người đó có thể thấy điều
rằng khi bạn cởi mở trong một hay hai khoảnh khắc, vài giọt cam lồ đó đi vào
bạn qua lối mở đó.
Người hỏi: Liệu tác động của ân huệ trực tiếp
lên người nhận nó có kéo dài mãi không? Và nó có thể đưa người ta tới việc đạt
tới điều tối thượng không?
Ân huệ trực tiếp chỉ được nhận khi đạt tới
điều tối thượng và không trước đó. Chỉ khi bản ngã của bạn tan biến thì ân huệ
mới giáng lên bạn. Bản ngã là rào chắn duy nhất trên con đường đạt tới. Và việc
đạt tới là trạng thái tối thượng mà sau đó không cái gì còn lại để được đạt tới
nữa.
Người hỏi: sadhana là kỉ luật của kundalini
hay nó là tâm linh?
Nó chính là tâm linh... Các bạn biết rằng việc
ăn là vật lí, nhưng nếu các bạn không ăn, linh hồn chẳng mấy chốc sẽ rời khỏi
thân thể bạn. Cho nên mặc dầu thức ăn đi vào thân thể, vậy mà vẫn cần thân thể
phải ở vào một trạng thái đặc biệt để cho linh hồn ở lại trong nó. Theo cùng
cách này mặc dầu kundalini là tâm linh vẫn cần kundalini là một trạng thái đặc
biệt để cho bạn có thể đạt tới linh hồn. Nếu kundalini không phải là một trạng
thái đặc biệt, nếu nó khác với điều nó đáng phải là vậy đối với bạn, thế thì
không thể nào đạt tới linh hồn được. Cho nên mặc dầu kundalini là tâm linh, nó
phục vụ như bàn đạp để đi tới tâm linh. Bản thân nó không phải là tâm linh, và
nếu ai đó nói vậy thì người đó sai. Nếu ai đó nói rằng việc ăn là tâm linh,
người đó sai. Việc ăn là vật lí, nhưng nó phục vụ làm cơ sở cho tâm linh.
Thở là vật chất, và ý nghĩ nữa cũng là vật
chất; mọi thứ đều là vật chất. Thở và ý nghĩ thực sự là vật chất. Nhưng dạng vi
tế nhất của chúng được gọi là tâm linh. Linh hồn là dạng vi tế nhất của vật chất.
Nhưng tất cả chúng - hơi thở và tâm trí và tâm linh - đều phục vụ làm cơ sở cho
người tìm kiếm lấy bước nhảy vào tâm linh. Chúng phục vụ như bàn nhảy để nhảy
vào điều thiêng liêng. Điều đó giống như một người muốn đắm chìm vào trong dòng
sông, và để làm điều đó người đó trước hết phải đứng trên ván nhún dựng thẳng
trên bờ sông. Ván nhún không phải là dòng sông. Bây giờ ai đó có thể biện minh
rằng vì ván nhún không phải là dòng sông thì tại sao người đó, người muốn đắm
chìm vào dòng sông, phải đứng trên nó? Sao người đó không thể đứng ngay trong
sông? Nhưng không ai có thể đứng trong sông với dự định để chìm vào trong nó.
Trước hết người ta phải lấy chỗ đứng của mình ở trên bờ, và thế rồi người đó có
thể nhảy vào trong dòng sông. Và ván nhún là tuyệt đối khác với dòng sông mà
người ta chìm vào. Ván nhún không phải là dòng sông.
Cho nên chính là qua thân thể, qua tâm trí mà
bạn có thể lấy bước nhảy vào tâm linh, linh hồn. Và tâm linh được đạt tới chỉ
khi việc nhảy này đã được thực hiện. Hiện giờ các bạn phải chuẩn bị cho nó từ
nơi các bạn đang hiện hữu tại khoảnh khắc này. Cho nên thân thể và tâm trí là
bàn nhảy. Tuy nhiên, khi việc nhảy được thực hiện các bạn sẽ đạt tới tâm linh.
Người hỏi: Trong giáo huấn trước đây về thiền thầy bao giờ cũng yêu cầu chúng tôi phải thảnh thơi, tĩnh lặng và nhận biết. Còn bây giờ trong quá trình thở và hỏi mãnh liệt 'Tôi là ai?" Thầy hô hào chúng tôi đem tất cả mọi nỗ lực của mình vào trong nó. Nhưng người tìm kiếm đã thực hành kĩ thuật thiền trước đây thấy rất khó để đưa vào nỗ lực thường xuyên được duy trì. Vậy kĩ thuật nào trong hai kĩ thuật này là tốt cho người đó?
Không có vấn đề tốt và xấu ở đây. Tôi hiểu vấn
đề của bạn; đấy không phải là vấn đề tốt và xấu. Bạn chỉ phải tìm ra kĩ thuật
nào cho bạn nhiều an bình hơn và thêm đà cho việc thiền của bạn. Điều đó không
thể là như nhau với mọi người; họ sẽ kinh nghiệm điều đó một cách khác biệt. Có
những người đạt tới thảnh thơi chỉ sau khi tự họ đã chạy trên đất. Và có những
người khác có thể đi vào trong thảnh thơi ngay lập tức; nhưng có vài người ở
ngay giữa. Hơi khó để đi thẳng vào im lặng; chỉ một nhúm người mới có thể làm
được như vậy. Với đa số mọi người đều cần trải qua nhiều việc ráng sức và căng
thẳng trước khi họ có thể thảnh thơi. Nhưng mục đích trong cả hai trường hợp
này là như nhau - mục đích cuối cùng là như nhau. Nó là thảnh thơi.
Người hỏi: khi giải thích về việc thở sâu và
nhanh thầy nói rằng nó là một kĩ thuật cho việc biến đổi qua các cực đoan -
rằng chúng tôi phải trải qua điểm cực đoan của căng thẳng để cho trạng thái
thảnh thơi tuyệt đối cuối cùng được đạt tới. Nếu quả là như vậy, chúng tôi có
nên coi nó là sadhana hay kỉ luật của căng thẳng không?
Nó là sadhana của căng thẳng. Nó hoàn toàn là
kỉ luật của căng thẳng. Trong thực tế, mọi kỉ luật năng lượng đều là kỉ luật
của căng thẳng. Bản thân năng lượng có nghĩa là căng thẳng. Chính là qua căng
thẳng mà năng lượng đi vào hiện hữu. Chúng ta thành công trong việc tạo ra một
khối lượng năng lượng lớn vô cùng từ nguyên tử, vì chúng ta chẻ nó thành hai và
đặt các thành tố vi tế của nó vào trạng thái căng thẳng. Cho nên toàn thể kỉ
luật của năng lượng là kỉ luật của căng thẳng. Nếu chúng ta hiểu nó đúng, thì
bản thân căng thẳng là năng lượng.
Người hỏi: thầy nói về hai hệ thống sadhana -
tích cực và tiêu cực. Sadhana kundalini là gì - tích cực hay tiêu cực?
Nó là tích cực, hoàn toàn tích cực.
Người hỏi: sao Phật không nói về kundalini và
các trung tâm hay luân xa nó đi qua?
Điều này nên là phần cuối của cuộc thảo luận
tối nay của chúng ta.
Trong thực tế, tất cả những điều Phật đã nói
đều không được ghi lại, đó là khó khăn lớn nhất thành vấn đề. Nhiều điều từ
giáo huấn của Phật đã không được ghi lại một cách có chủ tâm. Và thế rồi các
giáo huấn của ông ấy đã được ghi lại năm trăm năm sau khi cái chết của Phật. Chúng
đã không được ghi lại vào thời ông ấy sống. Trong năm trăm năm, các bhikkhus
khất sĩ, các đệ tử của Phật, những người gìn giữ giáo huấn của ông ấy, đã từ
chối cô đọng chúng lại thành việc viết.
Thế rồi đến một thời khi những người trông coi
tri thức Phật giáo bản thân họ bắt đầu biến mất khỏi trái đất. Và do vậy một
sangha lớn, một cuộc hội họp các Phật tử, đã được triệu tập, cuộc họp đã quyết
định ghi lại các giáo huấn của Phật lần đầu tiên, bởi vì có nguy cơ thất lạc
chúng hoàn toàn sau khi người cuối cùng trong các khất sĩ đang gìn giữ chúng
không còn nữa.
Chừng nào mà các giáo huấn của Phật vẫn còn có
thể được gìn giữ bằng lời qua kí ức, thì các đệ tử của ông ấy vẫn cứ ngoan cố
từ chối đưa chúng vào việc viết ra. Cùng điều này đã xảy ra cho giáo huấn của
Jesus và Mahavira. Và điều đó cần phải làm như vậy.
Có rất nhiều lí do tại sao giáo huấn của Phật
và những người như ông ấy đã không được ghi lại. Thứ nhất, những người này đã
thuyết giảng qua lời từ miệng, cho nên chính những lời nói ra của họ hàm chứa
giáo huấn của họ. Trong số những lời này nhiều điều khác nhau đã được nói cho
các loại người tìm kiếm khác nhau. Và tất cả chúng không nhất thiết có ích cho
người mới bắt đầu kỉ luật tâm linh. Chúng có thể có hại cho họ.
Điều khá thường xảy ra là khi các giáo huấn
được ngụ ý dành cho những người tìm kiếm bậc cao được truyền cho những người
kém hơn họ thì chúng chỉ làm cho vị thế của họ không vững chắc là người học, vì
thế thì họ bị tác động bởi ý tưởng lao vào giai đoạn nâng cao và bỏ qua phần
bài tập riêng của mình. Cũng có khó khăn khác đối với vấn đề này. Nhiều điều
được dạy cho người mới bắt đầu trở thành không chỉ thừa mà thậm chí còn sai đối
với người tìm kiếm cao cấp. Cho nên nếu người mới bắt đầu mà biết mọi điều được
dạy cho người học cao cấp quá sớm, họ sẽ không làm bài tập riêng của mình một
cách nghiêm chỉnh và thực sự. Và trong biến cố đó họ sẽ bị mắc kẹt; họ không
thể tiến thêm được nữa. Do đó điều rất cần thiết cho các giáo huấn này là phải
đúng cho họ ngay ở giai đoạn riêng của họ. Chỉ thế thì họ mới học đúng và có
tiến bộ trong kỉ luật tâm linh.
Khi một đứa trẻ học bảng chữ cái, nó được dạy
phải nói "G thuộc vào God (Thượng đế)." Bây giờ thực sự không có
nghĩa gì mà nói như vậy; "G" có thể thuộc vào goblin (yêu tinh) nữa.
Và không có mối quan hệ nào giữa Thượng đế và yêu tinh cả; chúng không thuộc
vào cùng phường hội. Trong thực tế, "G" không có bất kì mối nối nào
với Thượng đế hay yêu tinh cả. Nhưng nói điều đó cho trẻ con cũng là điều nguy
hiểm khi chúng học bảng chữ cái. Nếu bố nó bảo nó, "Con ngu lắm,
"G" chẳng có liên quan gì với Thượng đế cả; "G" có thể
thuộc về cả nghìn lẻ một thứ nữa; nó không chỉ thuộc vào mỗi Thượng đế",
thế thì đứa con sẽ chẳng bao giờ học được chữ cái "G". Do đó điều cần
thiết là với hiện tại chỉ nên nói cho nó rằng "G" thuộc vào
"God" (Thượng đế). Gạt sang bên cả nghìn lẻ một thứ khác có liên quan
với nó đi. Chỉ cần thế là đủ nếu nó học "G" trong mối liên hệ với
Thượng đế. Về sau nó cũng sẽ học cả nghìn lẻ một thứ khác; và thế rồi nó tự
mình sẽ biết rằng "G" không chỉ dành riêng được nối với Thượng đế.
Ngay khi được nối với Thượng đế, nó được nối với nhiều từ khác. Và thế thì
Thượng đế sẽ bị bỏ qua và nó sẽ biết "G" một cách độc lập.
Cho nên trong kỉ luật tâm linh có hàng nghìn
điều thuộc vào hàng nghìn mức. Và thế rồi có vài điều rất cá nhân và bí mật và
bí truyền. Thiền mà tôi đang dạy cho các bạn bây giờ là điều có thể được nói ở
chỗ công cộng; nhưng có những điều tôi không thể thảo luận được trong nhóm lớn;
tôi sẽ không nói. Tôi sẽ nói về chúng chỉ với những cá nhân được chọn lựa,
những người xứng đáng.
Cho nên mặc dầu Phật đã nói nhiều, tất cả
những điều đó đã không được ghi lại. Theo cùng cách này, không phải mọi điều
tôi sẽ nói sẽ được ghi lại. Tất cả chúng không thể được qui về việc viết. Đầu
tiên tôi sẽ chỉ nói rằng nhiều điều công khai có thể được ghi lại mà không có
nguy cơ nào. Ở chỗ công khai tôi sẽ chỉ nói vậy thôi. Và điều cần được xem xét
và bảo tồn như những giáo huấn bí mật sẽ không bao giờ được tiết lộ ra cho công
luận. Tôi sẽ truyền chúng cho những cá nhân xứng đáng người sẽ ghi nhớ chúng
trong kí ức của mình.
Người hỏi: điều đó có ngụ ý rằng vấn đề
kundalini và những luân xa khác nên được coi như bí mật và không được ghi lại
chút nào không?
Không, có nhiều điều khác được bao hàm trong
nó. Không có khó khăn gì trong việc ghi lại điều tôi đã nói ở đây trong những
ngày này về vấn đề kundalini và luân xa. Không có khó khăn về bất cứ điều gì.
Khó khăn của tôi là ở chỗ có lỗ hổng hai nghìn năm trăm năm giữa Phật và thời
đại chúng ta, và điều đó đã tạo nên khác biệt lớn; qua thời kì này tâm thức con
người đã phát triển. Tôi bây giờ nghĩ có nhiều điều mà Phật cho là nên được
giấu kín thì bây giờ rất có thể đưa ra công khai. Hai mươi nhăm thế kỉ đã tạo
nên khác biệt cơ bản. Cho nên tôi nói rằng rất nhiều điều Phật đã coi là bí mật
bây giờ có thể được dạy công khai. Tương tự nhiều điều mà tôi coi là bí mật có
thể được để lộ ra hai nghìn năm trăm năm sau tôi, với điều kiện là tâm thức con
người tiến hoá theo cách nó phải thế.
Các bạn có hiểu điều tôi đang nói không? Ngay
cả nếu Phật có quay lại, ông ấy cũng sẽ tiết lộ nhiều điều ông ấy đã giữ lại
vào thời của mình.
Phật đã làm một điều có tính hiểu biết và quan
trọng lớn lao. Ông ấy đã quyết định với mười một câu hỏi rằng không ai được
phép hỏi ông ấy. Bởi vì nếu bất kì câu hỏi nào trong chúng mà được hỏi ông ấy,
ông ấy sẽ phải trả lời chúng theo cách này nọ. Và trong khi đưa ra câu trả lời
sai cho chúng là điều không đúng, thì thực sự là sai khi đưa ra câu trả lời
đúng. Cho nên ông ấy đã quyết định với mười một câu hỏi rằng chúng bị cấm, bởi
vì chúng là không thể giải thích được. Trước khi Phật vào một thị trấn, đều có
công bố công khai rằng không ai được nêu ra mười một câu hỏi đó cho Phật, vì
ông ấy sẽ không trả lời chúng. Cho nên công bố này nói đừng ai làm cho Phật
lúng túng.
Và có lí do chính đáng cho Phật để từ chối trả
lời chúng. Sẽ có hại nếu ông ấy trả lời chúng, và nếu ông ấy từ chối trả lời
chúng, ông ấy sẽ cảm thấy mặc cảm rằng ông ấy đã kìm hãm chân lí. Cho nên cách
tốt nhất là chúng không nên được nêu ra chút nào.
Cho nên mọi làng đều được thông báo bằng tiếng
trống rằng khi Phật tới thăm họ, phải không được đặt ra mười một câu hỏi này
cho ông ấy, bởi vì điều đó sẽ gây lúng túng cho ông ấy. Những câu hỏi này đã
được xem như avyakhya, câu hỏi không thể giải thích được. Và chúng thực sự đã
không được nêu ra; người ta chưa bao giờ đặt chúng ra cho Phật.
Và bất kì khi nào người đối lập với ông ấy cứ
khăng khăng nêu nó ra, Phật sẽ nói với người đó, "Đợi chút thời gian nữa,
và đồng thời làm vài sadhana. Và khi ông xứng đáng cho điều đó, ta sẽ trả lời
câu hỏi của ông."
Nhưng ông ấy chẳng bao giờ thực sự trả lời cả.
Và đây là điều những người chỉ trích và đối lập ông ấy thường hay dùng để chống
lại ông ấy. Người Jainas và người Hindus cho là Phật đã không trả lời những câu
hỏi này chỉ bởi vì ông ấy không biết câu trả lời. Họ cũng nói rằng vì kinh sách
riêng của họ đã trả lời cho từng câu hỏi đó, nên dường như là Phật thiếu tri
thức. Nhưng những người chỉ trích ông ấy đã quên mất rằng với Phật việc lặp lại
câu trả lời của kinh sách thì quá dễ dàng nếu ông ấy muốn trả lời chúng.
Sự thực là ở chỗ câu trả lời đúng không được
viết ra ngay trong kinh sách; chúng thực sự không có khả năng.
Cho nên câu hỏi này không nảy sinh tại sao
Phật đã không nói về kundalini và các luân xa.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment