Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 2)
Chương
1. Trí huệ của hồn nhiên
Làm
sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Nếu
một người bị rối loạn
Người
đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri thức.
Tâm
trí không rối loạn, không còn tìm kiếm xem xét cái gì là phải và cái gì là
trái,
Tâm
trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và hiểu.
Biết
rằng thân thể là cái bình mảnh mai, và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Trong
mọi thử thách
để
hiểu biết tranh đấu cho ông
để
bảo vệ điều ông có được.
Vì
chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi. Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc
gỗ vô dụng, nằm trên đất. Vậy nó biết gì?
Kẻ
thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh
suất của ông.
Nhưng
một khi bị nó khống chế, không ai có thể giúp ông được mấy, cho dù cả bố hay mẹ
ông.
Có
lần tôi được hỏi, "Triết lí là gì?" Tôi nói, "Triết lí là nghệ
thuật hỏi câu hỏi sai." Người mù hỏi "Ánh sáng là gì?" - đây là
triết lí. Người điếc hỏi "Âm nhạc là gì? Âm thanh là gì?" - đây là
triết lí.
Nếu
người mù hỏi, "Làm sao tôi có thể lấy lại được đôi mắt?" đây không
còn là triết lí nữa, đây là tôn giáo. Nếu người điếc đi tới bác sĩ để được chữa
trị sao cho người đó có thể nghe được, thế thì người đó đang đi theo hướng của
tôn giáo và không theo hướng của triết lí.
Triết
lí là đoán chừng, nó là bàn tán; chẳng biết gì, người ta cố phát minh ra chân
lí. Và chân lí không thể được phát minh, và bất kì cái gì được phát minh ra
không thể đúng được. Chân lí phải được khám phá ra. Nó đã có đó rồi... mọi điều
chúng ta cần là con mắt cởi mở - con mắt để thấy nó, trái tim để cảm nó, bản thể
để hiện diện với nó. Chân lí bao giờ cũng hiện diện nhưng chúng ta vắng mặt, và
bởi vì chúng ta vắng mặt chúng ta không thể thấy được chân lí. Và chúng ta cứ hỏi
về chân lí, mà chúng ta không hỏi câu hỏi đúng: Làm sao hiện diện? Làm sao để
trở thành sự hiện diện?
Chúng
ta hỏi về chân lí và việc hỏi đó đi xa khỏi nó, bởi vì việc hỏi ngụ ý rằng câu
trả lời là có thể có từ ai đó khác. Việc hỏi ngụ ý rằng ai đó khác có thể nói
cho bạn chân lí là gì. Không ai có thể nói cho bạn điều đó được, điều đó không
thể được nói.
Lão
Tử nói: Chân lí có thể được nói ra không còn là chân lí nữa. Một khi được nói
ra, nó trở thành dối trá.
Tại
sao? - bởi vì người biết, biết nó không phải như thông tin; bằng không, sẽ rất
dễ dàng truyền thông tin này cho bất kì ai sẵn sàng nhận nó. Chân lí được biết
như kinh nghiệm bên trong. Nó giống như việc nếm trên lưỡi. Nếu một người chưa
bao giờ nếm vị ngọt là gì, bạn không thể giải thích nó cho người đó được - điều
đó là không thể được. Nếu một người chưa thấy mầu sắc, bạn không thể giải thích
cho người đó nó là gì.
Có
những điều chỉ có thể được kinh nghiệm, và qua kinh nghiệm, được hiểu. Thượng đế
là kinh nghiệm tối thượng đó, điều hoàn toàn không thể diễn đạt nổi, không thể
truyền đạt nổi. Nó không thể được truyền đạt. Nhiều nhất, vài hướng dẫn có thể
được cho; nhưng những hướng dẫn đó cũng phải được nhận bằng trái tim rất thông
cảm, bằng không bạn sẽ bỏ lỡ chúng.
Nếu
bạn diễn giải chúng bằng tâm trí mình bạn sẽ bỏ lỡ chúng, bởi vì tâm trí bạn có
thể làm gì khi có liên quan tới việc diễn giải? Nó chỉ có thể đem quá khứ riêng
của nó vào. Nó chỉ có thể đem hỗn độn riêng của nó vào. Nó có thể đem những
xung đột, hoài nghi, lẫn lộn của nó vào. Và với tất cả những cái đó nó sẽ áp đặt
lên chân lí, lên hướng dẫn được trao cho bạn, và lập tức mọi sự bị bóp méo. Tâm
trí bạn không ở trong trạng thái để thấy, để cảm.
Tôn
giáo đơn giản nghĩa là tạo ra một không gian trong tâm trí của bạn, cái có năng
lực thấy, cái có năng lực của không xung đột, cái có năng lực là một mà không
chia chẻ gì, cái có năng lực toàn vẹn, sáng tỏ, cảm nhận. Tâm trí với đầy những
ý nghĩ không thể cảm nhận được; những ý nghĩ đó cứ can thiệp vào. Những ý nghĩ có
đó, hết tầng nọ tới tầng kia. Vào lúc cái gì đó đạt tới cốt lõi bên trong nhất
của bạn, nếu mà nó đạt tới, nó không còn là như nó đã được chuyển giao bởi ai
đó, người đã biết. Nó là một hiện tượng khác toàn bộ.
Phật
hay lặp lại từng hướng dẫn ba lần. Ai đó hỏi ông ấy, "Sao thầy lặp lại một
thứ những ba lần?"
Ông
ấy nói, "Ngay cả ba lần cũng không đủ. Khi ta nói điều đó lần thứ nhất,
ông chỉ nghe thấy lời thôi. Những lời đó trống rỗng, chỉ trống rỗng, cái vỏ hổng,
không có nội dung. Ông không thể nghe thấy nội dung ở lần thứ nhất. Lần thứ
hai, ông nghe nội dung qua lời, hương thơm tới, nhưng ông bàng hoàng thế, ông bị
bối rối bởi sự hiện diện của nó đến mức ông không ở vào trạng thái để hiểu. Ông
nghe, nhưng ông không hiểu. Đó là lí do tại sao ta phải lặp lại nó ba lần."
Tôi
cứ lặp đi lặp lại bởi một lẽ đơn giản là các bạn ngủ thế - nó phải được lặp lại,
được gõ búa vào. Có thể trong khoảnh khắc nào đó, khoảnh khắc thuận lợi nào đó,
các bạn sẽ không ở sâu thế trong giấc ngủ; các bạn có thể ở gần, rất gần với việc
thức, và cái gì đó có thể đi vào trong các bạn. Các bạn có thể có khả năng nghe
thấy. Vâng, có những khoảnh khắc khi các bạn rất gần với việc thức - không thức,
không ngủ, chỉ ngay ở giữa, đâu đó ở giữa.
Mỗi
sáng các bạn đều biết, có vài khoảnh khắc khi giấc ngủ không còn nữa nhưng các
bạn vẫn chưa thức, các bạn không thể nói được là mình thức. Các bạn có thể nghe
thấy, theo một cách rất mơ hồ, âm thanh của chim chóc, và tiếng người rao hàng,
và tiếng vợ nói với hàng xóm và tiếng trẻ con sửa soạn tới trường, và tiếng ồn
ào giao thông, và tiếng tàu hoả chạy qua - nhưng theo một cách rất mơ hồ, không
toàn bộ, chỉ bộ phận. Và các bạn cứ lơ lơ trong giấc ngủ. Khoảnh khắc này các bạn
nghe thấy tiếng ồn của tàu hoả chạy qua, khoảnh khắc khác các bạn đã đi sâu hơn
vào giấc ngủ của mình.
Bây
giờ các nhà nghiên cứu về giấc ngủ nói rằng điều đó xảy ra liên tục trong giấc
ngủ của bạn: nếu bạn ngủ tám giờ, bạn không ở cùng mức độ liên tục, mức độ của
bạn cứ thay đổi, hết đỉnh đến thung lũng. Cả đêm bạn đi lên và đi xuống. Đôi
khi bạn ở rất sâu trong giấc ngủ nơi ngay cả mơ cũng biến mất - Patanjali đã gọi
điều đó là sushupti, ngủ không mơ - và đôi khi bạn đầy những mơ. Và đôi khi bạn
chỉ ngay bên bờ thức tỉnh. Nếu cái gì đó vỡ tan, sốc xảy ra, bạn sẽ thức dậy, đột
nhiên thức dậy.
Đó
là nỗ lực của mọi chư phật: đợi đến đúng khoảnh khắc
khi bạn rất gần tới việc thức tỉnh. Thế thì một chút ít thúc đẩy và mắt bạn mở
ra và bạn có thể thấy.
Thượng
đế không thể được giải thích nhưng có thể được thấy, có thể được kinh nghiệm -
không thể được giải thích. Bất kì giải thích nào về Thượng đế không là gì ngoài
việc giải thích sai về ngài; do đó, càng có nhiều tu sĩ, nhà thượng đế học,
giáo sư, tôn giáo càng ít có trên thế giới. Càng nhiều giáo hoàng và nhiều
shankaracharyas, càng ít tôn giáo có đó trên thế giới - bởi vì những người này
cứ giải thích và Thượng đế không thể nào được giải thích. Họ nhồi nhét vào tâm
trí bạn bằng biết bao nhiêu lời giải thích, bây giờ những lời giải thích đó
trong xung đột. Bây giờ gần như không thể nào hình dung ra điều đó, cái gì là
cái gì, cái nào là cái nào. Bạn trong lẫn lộn hoàn toàn. Con người chưa bao giờ
trong lẫn lộn như thế trước đây, bởi vì nhân loại chưa bao giờ ở gần thế trước
đây. Trái đất thực sự đã trở thành làng, làng toàn cầu.
Trong
những ngày cổ đại đó các Phật tử chỉ biết mỗi điều Phật đã nói, và người Mô ha
mét giáo chỉ biết mỗi điều Mohammed đã nói, và người Ki tô giáo chỉ biết mỗi
Jesus. Bây giờ chúng ta đã trở thành người thừa kế của toàn thể di sản thừa kế
của nhân loại. Bây giờ bạn biết Jesus, bạn biết Zarathustra, bạn biết
Patanjali, bạn biết Phật, bạn biết Mahavira, bạn biết Lão Tử và hàng trăm lời
giải thích khác, hướng dẫn khác - và chúng tất cả đều nhảy bổ vào bạn. Bây giờ
rất khó kéo bạn ra khỏi sự lẫn lộn này. Cách có thể duy nhất là vứt toàn bộ sự ồn
ào này đi, không phải từng phần mà toàn bộ. Đó là thông điệp của tôi.
Và
bằng việc vứt nó đi, các bạn sẽ không vứt bỏ Jesus hay Mohammed hay Phật; bằng
việc vứt bỏ nó các bạn sẽ tới gần họ hơn. Bằng việc vứt bỏ nó, các bạn sẽ đơn
giản vứt bỏ các tu sĩ và các truyền thống và các tục lệ và sự khai thác cứ diễn
ra nhân danh truyền thống và tục lệ. Bằng việc xoá đi tất cả những điều này,
quên đi Kinh Thánh và Vedas và Gita, bạn sẽ đạt tới sáng tỏ, trong sạch. Vâng,
bạn cần việc dọn dẹp mùa xuân, các bạn cần làm nhẹ gánh toàn bộ cho trái tim.
Chỉ thế, trong im lặng đó, bạn sẽ có khả năng để hiểu.
Phật
nói:
Làm
sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Hàng
nghìn người đã tụ tập quanh Phật, cũng như các bạn đã tụ tập quanh tôi - hàng
nghìn người tìm kiếm đã tới Phật và họ đã hỏi đủ mọi loại câu hỏi. Và Phật đã
không quan tâm tới câu hỏi của họ chút nào; ông ấy không quan tâm tới việc trả
lời chúng. Ông ấy quan tâm, chắc chắn, tới việc chỉ ra cho họ con đường, nhưng
vấn đề là ở chỗ họ quá băn khoăn với những câu hỏi và câu trả lời của họ mà họ
đã thu thập, họ bị quá bối rối bởi đủ mọi tri thức họ đã từng mang theo mình, đến
mức không thể nào, gần như hoàn toàn không thể nào chỉ được cho họ con đường.
Do đó mới có lời kinh này: Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được con đường?
Cho
nên thay vì cho họ thêm câu trả lời, thêm giải thích, Phật bắt đầu lấy đi tri
thức của họ, những câu trả lời làm sẵn của họ, những quan niệm tiên thiên của họ,
những định kiến của họ. Ấn Độ không bao giờ có khả năng tha thứ cho Phật vì điều
đó. Lập tức sau khi ông ấy chết tâm trí truyền thống của đất nước này bắt đầu
nhổ bật gốc rễ mọi cây cối ông ấy đã trồng; mọi bụi hồng đều bị thiêu rụi. Phật
đã hoàn toàn bị tống ra khỏi đất nước này. Người con vĩ đại nhất của mảnh đất
này không còn chỗ trú ngụ ở đây nữa; giáo huấn phải tìm chỗ cư ngụ ở những mảnh
đất nước ngoài.
Điều
này không phải là ngẫu nhiên, điều này bao giờ cũng xảy ra. Jesus đã bị những
người Do Thái kết án, người Do Thái đóng đinh, và Jesus là người Do Thái vĩ đại
nhất đã từng ở trên trái đất, việc nở hoa vĩ đại nhất của tâm thức Do Thái, việc
diễn đạt tột cùng, cao trào, đỉnh Everest. Nhưng sao người Do Thái đã phủ nhận
ông ấy? Họ đáng phải hạnh phúc, họ đáng phải nhảy múa và mở hội, nhưng họ không
thể - họ không thể tha thứ được cho ông ấy, bởi vì sự hiện diện của ông ấy làm
cho họ cảm thấy rất tầm thường; đó là tội của ông ấy. Ông ấy phải bị trừng phạt
vì điều đó, vì ở cao thế, vì vượt ra ngoài thế, vì cao siêu thế, vì duyên dáng
thế, vì đem tới tình yêu thế. Vì sự hiện diện của mình mà ông ấy phải bị trừng
phạt, bởi vì sự hiện diện của ông ấy làm cho mọi người cảm thấy xấu xí khi so
sánh. Ông ấy phải bị loại bỏ để cho tâm trí tầm thường có thể cảm thấy thoải
mái.
Jesus
không bị giết bởi người Do Thái, ông ấy bị giết bởi tâm trí tầm thường. Điều đó
đã xảy ra cho tâm trí Do Thái tầm thường trong trường hợp của Jesus. Cùng điều
đó đã xảy ra với Phật. Phật đã không được người Hindu dung thứ, và ông ấy đã là
người Hindu vĩ đại nhất. Ông ấy đã là người Hindu thuần khiết nhất có thể được,
chính tinh hoa của Hindu giáo. Điều Upanishads nói, ông ấy đã hiện thực nó. Ông
ấy là việc hiện thực hoá của khao khát sâu sắc nhất của mảnh đất này, nhưng ông
ấy bị nhổ bật gốc rễ từ đây, ông ấy bị tống ra khỏi đây.
Phật
giáo đã biến mất khỏi Ấn Độ, thậm chí không dấu vết nào còn đằng sau - hoàn
toàn bị xoá sạch sẽ. Tại sao? Ông ấy đã cực kì được kính trọng ở Tây Tạng, ở
Trung Quốc, ở Hàn Quốc, ở Nhật Bản, ở Thái Lan, ở Miến Điện, ở Sri Lanka. Toàn
thể châu Á yêu mến con người này, giáo huấn của ông ấy duy nhất thế, lời của
ông ấy hàm chứa thế. Nhưng Ấn Độ đơn giản đã quên mất tất cả về ông ấy - tâm
trí Ấn Độ tầm thường. Điều đó chẳng liên quan gì với người Ấn Độ cả - lại là
tâm trí tầm thường. Tâm trí tầm thường chưa bao giờ cho phép các thiên tài; người
tầm thường sung sướng với người tầm thường khác. Người ngu sung sướng với người
lãnh đạo ngu. Lãnh đạo càng ngu, mọi người càng sung sướng - bởi vì ông ta
trông giống họ nhiều thế.
Tôi
đã nghe:
Một
giám thị mới được bổ nhiệm vào một nhà thương điên. Người cũ chuyển giao trách
nhiệm, ông ta về hưu, và một bữa tiệc nhỏ được tổ chức để để mọi người trong bệnh
viện cám ơn người cũ về phục vụ của ông ta, và tiếp đón người mới bởi các bệnh
nhân. Mọi người điên được tập hợp.
Giám
thị cũ có chút ít phân vân; ông ấy chưa bao giờ thấy họ sướng thế. Mọi người
điên đều sướng, vui tới mức ông ta không thể đừng được cám dỗ hỏi họ - và ông
ta sắp đi cùng ngày này, cho nên ông ta phải hỏi ngay; bằng không bao giờ cũng
còn điều tò mò trong tâm trí và ông ta sẽ chẳng bao giờ biết được câu trả lời.
Ông
ta hỏi người điên. "Sao anh trông sướng thế?"
Họ
nói, "Bởi vì ông giám thị mới kia - ông ấy trông hệt như chúng tôi! Ông là
người ngoài chúng tôi, ông lành mạnh. Ông ấy trông có vẻ điên!"
Và
điều đó là sự thật - viên giám thị mới gần như điên khùng. Nhưng những người
điên rất sướng Ai đó bây giờ đã tới, người sẽ không làm cho họ cảm thấy họ
điên.
Điều
này bao giờ cũng là tình huống trên trái đất này - trái đất này là nhà thương
điên - và bất kì khi nào một người lành mạnh xảy ra, chúng ta đều cư xử không
phải với người đó. Hàng nghìn người đã tới Phật để hỏi, "Thượng đế ở đâu?
Thượng đế là gì?" Và đặc biệt là các brahmins, các bác học, các học giả,
những người đầy am hiểu, am hiểu về các kinh sách, họ thường tới ông ấy để hỏi,
"Ông có tin vào Thượng đế không? Định nghĩa niềm tin của ông, giải thích
khái niệm của ông."
Và
Phật cứ khăng khăng lặp đi lặp lại: Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được con đường?
Ông ấy thường nói, "Xin đừng hỏi về Thượng đế. Việc hỏi của ông về Thượng
đế hệt như người mù hỏi về ánh sáng - điều đó không thể được giải thích. Ta là
thầy chữa," ông ấy nhấn mạnh. "Ta có thể chữa mắt của ông, ta có thể
trao lại cho ông cái nhìn. Và thế rồi tự bản thân ông sẽ có khả năng thấy, và
ánh sáng phải được ông thấy chứ. Việc thấy ánh sáng của ta chẳng có ích gì cả.
Ta có thể thấy ánh sáng, ta thậm chí có thể mô tả nó, nhưng điều đó sẽ không
cho ông ý tưởng nào về nó là gì."
Thực
ra không có cách nào có thể để diễn đạt cho người mù ánh sáng là gì. Ánh sáng
là kinh nghiệm, cái gì đó có tính tồn tại, không giải thích nổi. Và Thượng đế
là ánh sáng tối thượng, ánh sáng của mọi ánh sáng, ánh sáng đằng sau mọi ánh
sáng, cội nguồn của mọi ánh sáng. Làm sao Thượng đế có thể được giải thích cho
bạn nếu bạn mù?
Do
đó Phật chẳng bao giờ nói về Thượng đế. Và các nhà bác học và các brahmins sẽ
quay về chỗ của họ mà lan truyền tin đồn và nói rằng "Người này
không trả lời câu hỏi này bởi vì ông ta không biết; bằng không, sao ông ấy
không thể đơn giản nói có hay không? Chúng tôi đã hỏi câu hỏi rất đơn giản,
'Ông có tin vào Thượng đế không?' Ông ấy có thể đã nói có hay không - nếu ông ấy
biết thế thì câu trả lời là đơn giản. Nhưng ông ấy nói vòng vo; chúng tôi hỏi về
Thượng đế và ông ấy nói theo kiểu cách ngôn. Ông ấy nói, 'Làm sao điều đó có thể
được nói ra? Làm sao điều đó có thể được giải thích?' Sự kiện thực là ông ấy
không biết. Sự kiện thực là ở chỗ ông ấy là kẻ vô thần trá hình; ông ấy đang lừa
mọi người, làm biến chất mọi người."
Người
Hindus đã bịa ra một câu chuyện rất tinh ranh về Phật. Họ nói rằng Thượng đế đã
tạo ra thế giới, và đồng thời ngài đã tạo ra địa ngục và cõi trời - địa ngục
cho những người bị trừng phạt và cõi trời cho những người được trọng thưởng vì
đức hạnh của họ. Nhưng chuyện xảy ra là hàng nghìn năm qua đi chẳng ai vào địa
ngục cả, bởi vì không ai phạm tội. Tất nhiên, quỉ rất mệt mỏi vì cứ chờ đợi
hoài và chờ đợi và chờ đợi - không có việc làm, không có kinh doanh! Thậm chí
không một linh hồn nào đã xuất hiện!
Cực
kì tức giận, quỉ lên Thượng đế và nói, "Sao ông làm ra địa ngục này, để
làm gì? Và sao ông đẩy tôi vào đó chịu trách nhiệm? Chúng tôi mệt rồi, nhân
viên của tôi mệt hết cả rồi. Chẳng ai xuất hiện cả. Chúng tôi mở cửa hàng và
chúng tôi ngồi cả ngày mà chẳng có một khách hàng nào! Chúng tôi để cửa mở -
không một linh hồn nào đã từng vào. Phỏng có ích gì? Xin giải phóng chúng tôi
khỏi việc này đi."
Thượng
đế nói, "Sao ông không đến sớm hơn? Ta quên khuấy mất về điều đó. Ta sẽ
thu xếp vậy. Ngay đây ta sẽ sinh vào trong thế giới là Phật Gautama, và ta sẽ
làm biến chất tâm trí mọi người. Ta sẽ làm biến chất tâm trí họ nhiều tới mức
ông sẽ bị chật ních đấy. Ông cứ về địa ngục đi và đợi đấy."
Và
đó là cách chuyện xảy ra. Câu chuyện nói, Thượng đế vào thế giới là Phật
Gautama, làm biến chất tâm trí mọi người, phá huỷ tin của họ, nhổ bật gốc rễ những
tục lệ của họ, làm rung chuyển đức tin của họ, tạo ra hoài nghi trong tâm trí họ,
nghi ngờ. Từ đó địa ngục bị chật ních đến mức quỉ cứ phải nói đi nói với Thượng
đế, "Thôi bây giờ dừng đi! Xin dừng đi! Chúng tôi mệt hết rồi, nhiều người
thế! Chúng tôi phục vụ cả hai mươi bốn tiếng, hết ngày nọ tới ngày kia; thậm
chí cả trong đêm cửa cũng không thể đóng được. Mọi người đơn giản cứ kéo tới!"
Một
câu chuyện rất tinh ranh. Bạn có thấy cái tinh ranh tinh vi trong nó không?
Theo một nghĩa nào đó Phật được thừa nhận là hiện thân của Thượng đế. Người
Hindus tinh ranh hơn người Do Thái theo cách đó. Người Do Thái đơn giản phủ nhận
rằng Jesus là Con của Thượng đế, họ bác bỏ Jesus. Người Hindus tinh vi hơn theo
cách đó, trau chuốt hơn, văn hoá hơn - tất nhiên, một nền văn minh cổ đại hơn
mà. Và nền văn minh càng trở nên cổ đại hơn, nó càng trở nên tinh ranh hơn.
Thấy
cái tinh ranh này: Phật được chấp nhận là hoá thân thứ mười của Thượng đế, và vậy
mà Thượng đế lấy hoá thân này vào thế giới để làm biến chất tâm trí mọi người.
Cho nên mặc dầu Phật là Thượng đế, cẩn thận đấy, chớ có nghe ông ta! Bạn thấy
chiến lược này, cái mẹo này chưa? Họ không phủ nhận Phật có tính thượng đế - thực
ra gần như không thể nào phủ nhận được Phật có tính thượng đế.
H.G.
Wells đã nói rằng Phật Gautama là nghịch lí: con người vô thượng đế nhất và vậy
mà có tính thượng đế nhất. Ông ấy chưa bao giờ nói về Thượng đế, ông ấy chưa
bao giờ bảo mọi người tin vào Thượng đế. Thượng đế đơn giản bị thiếu trong giáo
huấn của ông ấy. Đấy không cần là giả thuyết, điều đó không được cần. Vô thượng
đế nhất và vậy mà có tính thượng đế nhất… không ai dường như có tính thượng đế
như Phật, duyên dáng như Phật - hệt như bông sen, tâm thức thuần khiết nhất có
thể quan niệm được, tươi mát như giọt sương trong ánh bình minh.
Họ
đã không thể phủ nhận được điều đó, họ phải chấp nhận rằng ông ấy là Thượng đế.
Nhưng họ không thể chấp nhận cách tiếp cận của ông ấy bởi vì cách tiếp cận của
ông ấy, nếu được chấp nhận, sẽ phá huỷ toàn thể tôn giáo đã được thiết lập,
toàn thể tổ chức. Ông ấy lấy đi mọi niềm tin; thực ra ông ấy làm cho một điều
thành rất quan trọng, rất bản chất là con người của niềm tin sẽ không có khả
năng biết được. Ông ấy không ngụ ý trở thành người không tin, bởi vì không tin
lại là tin theo cách phủ định. Không là người tin không là người không tin.
Cách
tiếp cận của Phật là cách tiếp cận của người bất khả tri. Ông ấy không hữu thần
không vô thần - ông ấy là người truy tìm. Và ông ấy muốn bạn còn mở cho việc
truy tìm. Đi không có định kiến, đi không có ý tưởng được làm sẵn - bởi vì nếu
bạn đi với ý tưởng nào đó, bạn sẽ phóng chiếu ý tưởng của bạn lên thực tại. Và
nếu bạn có ý tưởng bắt rễ sâu trong tâm trí bạn, bạn sẽ thấy ý tưởng đó được
hoàn thành trong thực tại và nó sẽ chỉ là ảo giác, mơ được bạn phóng chiếu lên.
Bạn phải đi hoàn toàn trống rỗng. Nếu bạn thực sự muốn biết chân lí bạn phải
tuyệt đối trống rỗng, bạn phải không mang ý tưởng nào, ý thức hệ nào; bạn phải
đi trần trụi, trần truồng, trống rỗng. Bạn phải vận hành từ trạng thái của
không biết. Trạng thái của không biết là trạng thái của người kinh ngạc.
Có
một câu ngạn ngữ cổ của Jesus, không được ghi trong Kinh Thánh, nhưng người
Sufis đã gìn giữ nó. Người Sufis đã gìn giữ nhiều câu nói hay của Jesus. Câu
nói này quan trọng vô cùng đến mức người ta tự hỏi sao nó không được ghi vào
trong Kinh Thánh, nhưng nếu bạn cân nhắc kĩ càng về nó thì lí do trở nên rõ
ràng.
Câu
nói này là: Người được ân huệ là người ngạc nhiên, bởi vì vương quốc của Thượng
đế là của người đó. Người được ân huệ là người ngạc nhiên. Điều này đã không được
ghi trong Kinh Thánh. Tại sao? - bởi vì Kinh Thánh muốn tạo ra tôn giáo nào đó,
giáo phái nào đó; nó muốn truyền bá ý thức hệ nào đó. Còn con người của ngạc
nhiên phải bỏ mọi ý thức hệ.
Người
được ân huệ là người ngạc nhiên, bởi vì chỉ trong việc ngạc nhiên bạn mới có thể
giống như trẻ con, hồn nhiên. Và chỉ trong hồn nhiên đó bạn có thể biết cái
đang đó. Làm sao tâm trí rối loạn hiểu được con đường?
Cho
nên bất kì khi nào một người tới Phật và lục vấn - những câu hỏi lớn lao về cuộc
sống và những bí ẩn của cuộc sống - Phật đều nói, "Ông đợi đấy, ông thiền
đi. Trước hết để tâm trí rối loạn của ông trở thành không rối loạn. Để cơn bão
tâm trí này của ông qua đi. Để im lặng tới, bởi vì im lặng sẽ cho ông đôi mắt.
Ta có thể chỉ cho ông con đường để im lặng, và thế rồi ông không cần hướng dẫn
của bất kì ai. Một khi ông im lặng được, ông sẽ có khả năng thấy con đường và
ông sẽ có khả năng đạt tới mục đích."
Và
tâm trí chúng ta thực sự rối loạn. Cả nghìn lẻ một rắc rối có đó. Trước hết, mọi
người đều trong trạng thái tinh thần phân liệt, nhiều hay ít; khác biệt chỉ ở mức
độ. Mọi người đều bị chia chẻ bởi vì những kẻ bóc lột, cả tôn giáo và chính trị,
đều phụ thuộc vào chiến lược này: phân chia con người, không cho phép con người
toàn vẹn, và con người sẽ vẫn còn là nô lệ. Ngôi nhà bị chia ra chống lại bản
thân nó thì nhất định yếu. Cho nên bạn đã được dạy phải tranh đấu với thân thể;
đó là chiến lược phân chia gốc rễ, của việc phân chia bạn. "Tranh đấu với
thân thể, thân thể là kẻ thù của bạn. Chính thân thể đang lôi bạn tới địa ngục.
Tranh đấu, cầm dao trong tay! Tranh đấu cả ngày lẫn đêm! tranh đấu trong nhiều
kiếp! Chỉ thế thì một ngày nào đó bạn sẽ có khả năng thắng được nó. Và chừng
nào bạn chưa thắng thân thể mình, bạn sẽ không đi vào được thế giới của Thượng
đế."
Trong
hàng thế kỉ điều vô nghĩa này đã được dạy cho mọi người. Và kết quả là ở chỗ mọi
người đều bị phân chia, mọi người đều chống thân thể họ. Và nếu bạn chống thân
thể bạn, bạn nhất định sẽ bị rắc rối. Bạn sẽ tranh đấu với thân thể bạn, và bạn
và thân thể bạn là một năng lượng. Thân thể là linh hồn thấy được, và linh hồn
là thân thể không thấy được. Thân thể và linh hồn không bị phân chia ở bất kì
đâu, chúng là các bộ phận của nhau, chúng là bộ phận của một toàn thể. Bạn phải
chấp nhận thân thể, bạn phải yêu mến thân thể, bạn phải kính trọng thân thể, bạn
phải biết ơn thân thể mình. Chỉ thế thì bạn mới đạt tới loại toàn vẹn nào đó, sự
kết tinh sẽ xảy ra; bằng không bạn sẽ vẫn còn bị rắc rối. Và thân thể sẽ không
bỏ bạn dễ dàng thế; ngay cả sau hàng trăm kiếp sống việc tranh đấu sẽ vẫn có
đó. Bạn không thể đánh bại thân thể được.
Tôi
không nói rằng thân thể không thể bị mòn mỏi đi, nhớ lấy, nhưng bạn không thể
đánh bại được thân thể. Bạn không thể đánh bại được nó bằng việc thù địch với
nó. Bạn có thể thắng nó bằng việc thân thiện, bằng việc yêu thương, bằng việc
kính trọng, bằng việc tin cậy nó. Đó đích xác là cách tiếp cận của tôi: thân thể
là ngôi đền chùa, bạn là vị thần của ngôi đền chùa này. Đền chùa bảo vệ bạn, là
chỗ che mưa, che gió, che nóng cho bạn. Nó đang phục vụ bạn đấy! Tại sao bạn phải
tranh đấu với nó? Điều đó cũng ngốc như người lái xe tranh đấu với chiếc xe. Nếu
người lái xe tranh đấu với xe, điều gì sẽ xảy ra? Anh ta sẽ phá huỷ chiếc xe và
anh ta sẽ phá huỷ bản thân mình trong việc tranh đấu với nó. Chiếc xe là phương
tiện đi tốt, nó có thể đưa bạn đi trên cuộc hành trình xa nhất.
Thân
thể là cơ chế phức tạp nhất trong sự tồn tại. Nó đơn giản tuyệt diệu! - và người
phúc lạc là người kì diệu. Bắt đầu cảm thấy ngạc nhiên với thân thể riêng của bạn
đi, bởi vì đó là cái gần bạn nhất. Tự nhiên gần nhất đã tiếp cận bạn, Thượng đế
gần nhất đã tới với bạn, là qua thân thể. Trong thân thể bạn là nước của đại
dương, trong thân thể bạn là lửa của các vì sao và mặt trời, trong thân thể bạn
là không khí, thân thể bạn được tạo ra từ đất. Thân thể bạn đại diện cho toàn
thể sự tồn tại, mọi yếu tố. Và biến đổi làm sao! Biến thái làm sao! Nhìn đất và
rồi nhìn vào thân thể bạn mà xem - biến đổi làm sao, và bạn chưa bao giờ ngạc
nhiên về nó cả! Cát bụi đã trở thành điều thiêng liêng - bí ẩn nào lớn hơn là
có thể có? Phép màu nào lớn lao hơn mà bạn chờ đợi? Và bạn thấy phép màu này
đang xảy ra mọi ngày. Từ bùn hoa sen tới...và từ bụi đất đã nảy sinh thân thể
tuyệt vời của chúng ta. Và một cơ chế phức tạp thế, chạy êm thế - không tiếng ồn.
Và nó thực sự phức tạp.
Các
nhà khoa học đã làm những cái máy rất phức tạp, nhưng không cái gì sánh được với
thân thể cả. Ngay cả máy tính phức tạp nhất cũng chỉ là đồ chơi nếu so với cỗ
máy bên trong của thân thể. Và bạn đã được dạy tranh đấu với nó. Điều đó tạo ra
chia chẻ, điều đó giữ bạn trong rắc rối, điều đó giữ bạn trong cuộc nội chiến
thường xuyên.
Và
bởi vì bạn tranh đấu với bản thân mình - điều hoàn toàn ngu ngốc - cuộc sống của
bạn trở thành ngày một ít thông minh và ngày một nhiều ngu xuẩn. Và thế rồi bạn
muốn những biến đổi lớn lao - bạn muốn ghen tị bị vứt bỏ và bạn muốn giận dữ biến
mất và bạn muốn không tham lam trong mình. Điều đó là không thể được! Với những
hiểu lầm như vậy từ ngay chỗ bắt đầu, làm sao bạn có thể tạo ra được không gian
nơi biến đổi xảy ra, nơi giận dữ trở thành từ bi, nơi ghét trở thành yêu, nơi
tham lam trở thành chia sẻ, nơi dục trở thành samadhi? Làm sao bạn có thể hi vọng,
làm sao bạn có thể trông đợi biến đổi lớn lao thế, với trạng thái rối loạn thế?
Điều
nền tảng là vứt bỏ chia chẻ, trở thành một. Là một đi, và thế thì mọi điều khác
là có thể; ngay cả điều không thể cũng thành có thể.
Làm
sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Con
đường là rất đơn giản và trực tiếp. Ngay cả trẻ con cũng có thể hiểu được điều
đó. Nó đơn giản như hai cộng hai là bốn, hay thậm chí còn đơn giản hơn. Nó đơn
giản như tiếng hót của con chim, đơn giản như bông hồng - đơn giản và đẹp, đơn
giản và cực kì vĩ đại. Nhưng chỉ một tâm trí không rối loạn mới có thể hiểu được
nó, chỉ một tâm trí không rối loạn mới có khả năng thấy nó; bằng không bạn sẽ sống
trong tham lam và bạn sẽ sống trong giận dữ và bạn sẽ sống trong ghen tị và sở
hữu, và bạn sẽ sống trong hận thù. Bạn có thể giả vờ, bạn có thể trở thành
thánh nhân trên bề mặt, nhưng bạn vẫn còn là tội nhân sâu bên dưới. Và tội lỗi
lớn nhất là phân chia bản thân mình. Tội lỗi lớn nhất này không phạm phải với
người khác, nó bao giờ cũng phạm phải với chính bản thân bạn. Đây là trạng thái
của tự tử, việc tạo ra phân chia này giữa thân thể bạn và bản thân bạn. Kết án
thân thể, bạn chỉ có thể trở thành kẻ đạo đức giả, bạn chỉ có thể sống cuộc sống
của kẻ giả vờ.
Trong
khoang tàu hoả hạng nhất, hai quí bà ăn vận đẹp đang thảo luận về quần áo trong
khi một quí ông trong góc vờ ngủ. Khi một bà nói mình thấy giá quần áo ngày nay
là không thể được, bà kia gợi ý bà ấy nên theo gương bà này và kiếm người bạn
trai ở bên mình: "Anh ấy sẽ cho bạn năm trăm đô la một tháng làm món quà
nhỏ - chồng bạn sẽ chẳng bao giờ làm điều đó đâu."
"Nhưng
điều gì xảy ra nếu tôi không thể kiếm được người bạn có năm trăm đô la?"
"Thế
thì lấy hai người với mỗi người hai trăm năm mươi đô."
Quí
ông này lên tiếng: "Nghe đây thưa các bà, tôi sắp ngủ bây giờ. Đánh thức
tôi dậy khi các bà giảm giá xuống hai mươi đô la."
Mọi
người đều giả vờ theo mọi cách có thể. Người giả vờ là thánh nhân có thể chính
là điều đối lập lại, và người giả vờ thức có thể ngủ, và người giả vờ ngủ có thể
thức... đủ mọi loại giả vờ, bởi vì xã hội tạo ra hoàn cảnh nó cho phép bạn chỉ
hoặc sống một cuộc hoàn toàn bị kết án, cuộc sống của kẻ tội phạm, hoặc cuộc sống
của kẻ đạo đức giả, của kẻ giả vờ. Xã hội cho bạn chỉ hai phương án: hoặc chân
thật và là tội phạm, hoặc không thật và đáng kính. Nó không cho phép bạn có
phương án thứ ba. Tại sao nó không cho phép bạn phương án thứ ba? - bởi vì
phương án thứ ba tạo ra một Jesus, một Phật, một Krishna, và sự hiện diện của họ
làm cho đám đông cảm thấy rất tầm thường, rất bị sỉ nhục, mất mặt.
Cho
nên xin đừng quyết định bằng việc nhìn vào hình tướng của người khác. Nhiều cơ
hội hơn, gần chín mươi chín phẩy chín phần trăm, bất kì cái gì họ xuất hiện
trên bề mặt họ sẽ không là vậy ở sâu bên dưới. Bạn có thể chắc chắn được về điều
đó; tôi nói gần như chắc chắn hoàn toàn, bởi vì chỉ không phẩy một phần trăm bạn
có thể lỡ - không nhiều gì. Chỉ thỉnh thoảng bạn mới bắt gặp vị phật, người có
hình tướng là một với nội tâm của người đó; bằng không bạn sẽ bắt gặp những người
là điều này ở bên ngoài và là điều khác ở bên trong. Đừng bị lừa bởi dáng vẻ.
Một
nữ diễn viên tình cờ làm quen với một người lang thang thất nghiệp và đưa anh
ta về căn hộ của mình bởi vì anh ta đi đôi giầy rất lớn và cô ấy đã được bảo rằng
đàn ông chân lớn có chim lớn. Cô ấy cho anh ta ăn bữa tối thịt nướng với nhiều
hạt tiêu và bia, thế rồi lôi anh ta lên giường.
Sang
hôm sau người này thức dậy một mình và thấy tờ mười đô la để trên bệ lò sưởi, với
lời nhắn ngắn gọn: "Tự mua đôi giầy vừa cho anh."
Nhưng
đó là cách chúng ta cứ quyết định... từ bên ngoài. Thực ra, bởi vì chúng ta thậm
chí không biết bên trong của riêng mình, làm sao chúng ta có thể nhìn vào bên
trong của người khác được? Chúng ta không biết nghệ thuật nhìn vào trong. Trước
hết bạn phải thực hành nghệ thuật này với bản thân mình. Trước hết bạn phải đi
vào trong lãnh thổ của mình, thế giới bên trong của mình. Bạn phải đi ngày một
sâu hơn vào tâm thức của mình, tới chính trung tâm của nó. Một khi bạn đã thấm
vào cốt lõi của bản thể mình, bạn sẽ có khả năng nhìn vào cốt lõi của bản thể của
bất kì ai khác. Thế thì không ai có thể lừa được bạn, bởi vì thế thì bạn không
nhìn vào hình tướng - bạn nhìn vào thực tại.
Làm
sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Tâm
trí rối loạn không thể hiểu được cái gì. Nó không ở trong trạng thái việc hiểu
là có thể. Việc hiểu không có nghĩa là tri thức. Tâm trí rối loạn có thể trở
thành rất thông thái - bạn có thể tới các đại học và bạn có thể thấy các giáo
sư, rất thông thái - nhưng họ còn rối loạn hơn cả bạn, trong xung đột bên trong
còn nhiều hơn cả bạn. Tri thức của họ chẳng ích gì cho họ chút nào. Tri thức
chưa bao giờ có ích cho bất kì ai, nó chỉ làm nặng gánh. Nó cho bạn sự kính trọng,
chắc chắn. Nó là trò bản ngã lớn, và bản ngã cảm thấy được thổi phồng lên;
nhưng bản ngã càng được thổi phồng lên, bạn sẽ càng rối loạn bên trong hơn bởi
vì bản ngã là hiện tượng giả tạo. Và khi bạn trở thành quá gắn bó với cái giả,
bạn bắt đầu mất tiếp xúc với cái thật. Khi bạn bắt đầu bắt thêm rễ vào cái giả,
bạn quên mất việc bắt rễ vào cái thực.
Con
người của tri thức là vô thức như bạn. Người dốt nát và người thông thái không
phải là trên những con thuyền khác nhau; họ là bạn đồng hành. Khác biệt giữa họ
chỉ ở thông tin - điều không phải là khác biệt chút nào, điều không phải là khác
biệt làm ra mọi khác biệt. Tôi có thể chỉ biết vài điều, bạn có thể biết thêm
vài điều nữa, ai đó khác có thể biết cả nghìn lẻ một điều, và ai đó khác có thể
chỉ như đi dạo qua từ điển bách khoa toàn thư Encyclopedia Britannica - điều đó
chẳng tạo nên khác biệt chút nào.
Phật
không phải là con người của tri thức, ông ấy là con người của hiểu biết - không
tràn đầy thông tin mà tràn đầy sáng suốt. Tràn đầy linh ảnh, không tràn đầy ý
nghĩ - sáng tỏ, sáng tỏ tựa tấm gương, và nhận biết lớn.
Bạn
đang đi như kẻ mộng du, người vừa đi vừa ngủ. Bạn không biết điều mình đang
làm, bạn không biết tại sao bạn làm nó; bạn không biết mình đang đi đâu, bạn
không biết tại sao bạn đi. Cuộc sống của bạn là ngẫu nhiên, và cuộc sống ngẫu
nhiên là cuộc sống vô ý thức - nó giống như người máy.
Một
anh chàng ở nhà hát cùng vợ đi ra nhà vệ sinh vào lúc nghỉ giữa giờ, nhưng đi
nhầm cửa và thấy mình đi ra vườn. Vì quá tiện để nghĩ tới việc dùng mặt đất,
anh ta nhấc một cây ra khỏi chậu hoa và đái vào chậu nó, rồi đặt lại cây đó vào.
Anh
ta trở về và thấy màn kịch tiếp đã bắt đầu. "Điều gì đã xảy ra cho tới giờ
trong màn này vậy?" anh ta thì thào hỏi vợ.
"Anh
nên biết," cô ấy nói một cách lạnh nhạt. "Anh đã ở trong đó đấy!"
Con
người sống trong vô ý thức. Con người không nhận biết, không nhận biết chút
nào. Bạn có thể quan sát bất kì người nào, bạn có thể quan sát bản thân mình, dần
dần, dần dần, và bạn sẽ thấy nhiều hành động vô ý thức đang xảy ra đến mức gần
như không thể nào tin được làm sao bạn đã sống cho tới giờ. Bạn nói dối chẳng
vì lí do nào cả! Và khi bạn bắt quả tang bản thân mình nói dối, bạn sẽ ngạc
nhiên: sao mình nói dối ngay chỗ đầu tiên? - bởi vì chẳng có lí do gì, bạn
không định thu được gì từ điều đó. Chỉ là thói quen, chỉ là lệ thường máy móc.
Bạn trở nên buồn chẳng vì lí do nào cả.
Bây
giờ có vài nhà nghiên cứu nói bạn có thể làm lịch về tâm trạng bạn, và tôi thấy
nghiên cứu của họ có ý nghĩa - bạn thực sự có thể làm ra lịch về tâm trạng bạn.
Cứ viết ra trong một tháng mà xem: Thứ hai buổi sáng bạn cảm thấy thế nào, và
vào buổi chiều và vào buổi tối và vào buổi đêm... ít nhất tám lần một ngày, cứ
ghi mọi ngày và đích xác cùng một giờ bạn cảm thấy thế nào. Và trong vòng ba
hay bốn tuần bạn sẽ ngạc nhiên rằng vào mỗi thứ hai và cùng lúc bạn đều cảm thấy
đích xác cùng một tâm trạng.
Bây
giờ điều này không thể thế được vì bất kì hoàn cảnh nào bên ngoài, bởi vì mỗi
thứ hai chúng là khác. Nó là cái gì đó bên trong - mặc dầu bạn sẽ thấy những
cái cớ bên ngoài, bởi vì chẳng ai muốn cảm thấy có trách nhiệm cho khổ riêng của
mình. Điều cảm thấy tốt là làm cho người khác cảm thấy có trách nhiệm về khổ của
bạn. Và bạn có thể tìm ra cớ, bạn thậm chí có thể bịa ra chúng nếu chúng không
có đó.
Đó
là chỗ mọi người đã trở thành rất, rất sáng tạo. Thực ra toàn thể tính sáng tạo
của họ đều bao gồm trong việc tạo ra cớ: "Sao mình buồn?" và bạn có
thể tìm thấy cả nghìn lẻ một lí do. Vợ bạn nói điều này và con cái không cư xử
đúng và hàng xóm và ông chủ ở văn phòng và giao thông và giá cả đang lên cao...
và bạn có thể tìm ra cả nghìn lẻ một thứ; chúng bao giờ cũng có đó. Và bạn có
thể vẽ ra cả thế giới rất ảm đạm, đen tối, và thế rồi bạn có thể cảm thấy thoải
mái rằng đấy không phải là trách nhiệm của bạn mà bạn buồn.
Nhưng
vẫn cùng thế giới đó, và sáng thứ ba bạn cảm thấy rất sôi nổi, rất vui vẻ, rạng
ngời - lần nữa bạn có thể tìm ra cớ: "Hôm nay là buổi sáng đẹp trời, và mặt
trời cùng chim chóc và cây cối và bầu trời, và tất cả đều đầy ánh sáng - sáng đẹp
thế!" Bạn có thể tìm ra cớ cho mọi loại tâm trạng, nhưng nếu bạn viết nhật
kí trong bốn tuần bạn sẽ thực sự thấy choáng rằng mọi thứ xảy ra cho bạn gần
như phụ thuộc vào bạn. Bạn có bánh xe bên trong cứ quay mãi, và cùng cái nan
hoa đó cứ lên đến đỉnh lặp đi lặp lại.
Vâng,
có những hoàn cảnh bên ngoài, nhưng chúng không phải là nguyên nhân; nhiều nhất
chúng làm lẩy cò. Một tâm trạng nào đó nhất định xảy ra được lẩy cò bởi hoàn cảnh
nào đó. Nếu hoàn cảnh này không có đó, cái gì đó khác sẽ thành điểm lẩy cò -
nhưng nó nhất định được lẩy cò.
Những
người đã sống trong cô lập đều trở nên nhận biết về sự kiện này. Phật hay phái
các đệ tử của ông ấy tới những nơi cô lập. Trong công xã mới chúng ta sẽ có các
hầm dưới đất cho nên tôi có thể cử bạn tới chỗ cô lập trong một tháng - tuyệt đối
cô lập. Bạn biến mất khỏi thế giới, cho nên bạn không thể đổ tại bất kì hoàn cảnh
nào bên ngoài bởi vì không có gì bên ngoài cả... bạn và những bức tường của hầm.
Và bạn sẽ ngạc nhiên: một hôm bạn hạnh phúc, một hôm bạn bất hạnh, một hôm bạn
cảm thấy rất tham lam, một hôm bạn cảm thấy giận dữ và không có ai đã xúc phạm
bạn, chọc giận bạn. Một hôm bạn sẽ thấy bạn đang tự mình nói dối cho mình vì bạn
không thể tìm ra bất kì ai khác.
"Tôi
có thể mua đồ uống cho cô được không?" anh ta hỏi, bằng cách gợi lên cuộc
đối thoại.
"Không,
cám ơn ông," cô ấy nói. "Tôi không uống."
"Thế
ăn tối chút ít với tôi trong phòng tôi vậy?" "Không, tôi không nghĩ
điều đó sẽ thích hợp," cô
ấy
nói.
Không
có kết quả gì với cách tiếp cận tinh tế hơn, chàng thanh niên đi thẳng vào vấn
đề: "Tôi bị say đắm bởi cái đẹp tươi mát của cô, thưa cô, và tôi sẽ cho cô
bất kì cái gì trái tim cô mong ước nếu cô dành một đêm với tôi."
"Ô,
không, không thưa ông, tôi không bao giờ làm điều như vậy đâu."
"Nói
cho tôi đi," anh thanh niên nói vừa cười, "cô không bao giờ làm cái
gì hơi chút không đúng sao?"
"Vâng,"
cô gái Pháp nói, "tôi nói dối."
Bạn
quan sát bao nhiêu lần trong ngày việc bạn nói dối - và chẳng vì lí do gì chút
nào - và bao nhiêu lần bạn trở nên giận dữ, chẳng lí do chút nào, và thế rồi bạn
sẽ thấy mình đang sống trong thế giới bên trong, thế giới chủ thể của riêng bạn.
Hiểu biết nghĩa là hiểu những điều nền tảng này của việc vận hành của cuộc sống.
Và nếu bạn hiểu những điều nền tảng này, biến đổi là không khó khăn. Thực ra, bản
thân hiểu biết trở thành việc biến đổi.
Làm
sao tâm trí rối loạn hiểu con đường?
Nếu
một người bị rối loạn
Người
đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với tri thức.
Từ
'tri thức' không ngụ ý điều bạn ngụ ý bởi tri thức. Khi Phật dùng từ 'tri thức'
ông ấy ngụ ý trí huệ, không phải thông tin; ông ấy ngụ ý việc biết, không phải
tri thức.
Nếu
một người bị rối loạn... đang trong xung đột, đang trong lẫn lộn, đang trong
phân chia, bị chia chẻ ở bên trong, nếu một người là đám đông bên trong... Người
đó sẽ không bao giờ được tràn đầy với trí huệ.
Trí
huệ cần thống nhất, trí huệ cần tích hợp, trí huệ cần kết tinh của nhận biết, của
tính quan sát, của việc quan sát hành động của bạn, tâm trạng của bạn, ý nghĩ của
bạn, xúc động của bạn... quan sát mọi thứ đang xảy ra trong thế giới bên trong
của bạn. Chỉ bằng việc quan sát nó, phép màu bắt đầu xảy ra. Nếu bạn bắt đầu thấy
rằng bạn nói dối chẳng bởi lí do gì cả, chính nhận biết đó sẽ trở thành trở ngại.
Lần sau bạn ở ngay bên bờ nói dối thì một giọng nói bên trong bạn sẽ nói,
"Quan sát đi, cẩn thận vào - mình đang đi vào trong bẫy lần nữa." Lần
sau bạn đang rơi vào trong buồn rầu, cái gì đó bên trong bạn sẽ làm cho bạn tỉnh
táo, sẽ báo động bạn.
Đây
là con đường của việc biến đổi năng lượng của bạn - aes dhammo sanantano. Aes
maggo visuddhya - đây là cách làm thuần khiết, đây là luật vĩnh hằng của biến đổi.
Tâm
trí không rối loạn, không còn tìm kiếm xem xét cái gì là phải và cái gì là
trái,
Tâm
trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và hiểu.
Cho
nên yêu cầu đầu tiên cho sannyasin là: Tâm trí không rối loạn, không còn tìm kiếm
xem xét cái gì là phải và cái gì là trái...
Một
phát biểu cực kì quan trọng và cách mạng. Phật đang nói: Đừng xét cái gì là phải
và cái gì là trái, bởi vì nếu bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn sẽ
bị phân chia, bạn sẽ trở thành kẻ đạo đức giả. Bạn sẽ giả vờ là cái phải và bạn
sẽ làm cái trái. Và khoảnh khắc bạn xét cái gì là phải và cái gì là trái, bạn
trở nên bị gắn bó, bạn trở nên bị đồng nhất. Bạn chắc chắn trở thành bị đồng nhất
với cái phải.
Chẳng
hạn, bạn thấy bên đường một tờ bạc một trăm ru pi; nó thể đã rơi ra từ túi ai
đó. Bây giờ câu hỏi nảy sinh: Lấy nó hay không lấy nó? Một phần của bạn nói,
"Lấy nó là hoàn toàn phải rồi. Chẳng ai thấy cả, chẳng ai bao giờ nghi ngờ.
Và mình có ăn cắp đâu - nó chỉ nằm đấy thôi! Nếu mình không lấy nó, ai đó khác
đằng nào cũng sẽ lấy nó thôi. Cho nên tại sao bỏ lỡ nó? Lấy là hoàn toàn phải đấy!"
Nhưng
một phần khác nói, "Điều này là sai - tiền này đâu có thuộc vào mình, nó
không phải là của mình. Theo một cách nào đó, một cách gián tiếp, đó là ăn cắp.
Mình phải báo cho cảnh sát, hay nếu mình không muốn bị bận tâm với nó, cứ đi tiếp,
quên hết nó đi. Thậm chí không nhìn nữa. Đây là tham và tham là tội lỗi!"
Bây
giờ, hai tâm trí này có đó. Một bên nói, "Điều đó đúng rồi, lấy đi,"
bên kia nói, "Điều đó sai rồi, đừng lấy." Bạn sẽ đồng nhất bản thân
mình với tâm trí nào?
Bạn
chắc chắn sẽ đồng nhất với tâm trí nói điều đó là vô đạo đức, bởi vì điều đó
thoả mãn bản ngã hơn. "Mình là con người đạo đức, mình đâu có là người thường;
bất kì ai khác cũng sẽ lấy tờ một trăm ru pi này. Trong những thời khó khăn thế,
mọi người không nghĩ tới điều tinh tế như thế." Bạn sẽ đồng nhất bản thân
mình với tâm trí đạo đức. Nhưng có mọi khả năng bạn sẽ lấy tờ bạc này. Bạn sẽ đồng
nhất bản thân mình với tâm trí đạo đức, và bạn sẽ không đồng nhất bản thân mình
với tâm trí sẽ lấy tờ bạc. Bạn sẽ lên án nó từ sâu bên dưới; bạn sẽ nói,
"Điều đó là không đúng - đó là phần tội lỗi của mình, phần thấp kém, phần
bị kết án." Bạn sẽ giữ cho mình tách rời nó. Bạn sẽ nói, "Mình chống
lại điều đó. Nó là bản năng của mình, nó là vô thức của mình, nó là thân thể
mình, nó là tâm trí mình, cái đã thuyết phục mình làm điều đó; bằng không, mình
đã biết nó rồi, rằng nó là sai. Mình là người biết rằng nó là sai."
Bạn
bao giờ cũng đồng nhất bản thân mình với cái đúng, thái độ đạo đức, và bạn
không đồng nhất với hành động vô đạo đức - mặc dầu bạn làm điều đó. Đây là cách
đạo đức giả phát sinh.
Thánh
Augustine đã nói trong buổi thú tội của mình: Lạy chúa, xin tha thứ cho con, bởi
vì con cứ làm những điều con biết con không nên làm, và con không làm những điều
con biết con phải làm.
Đây
là xung đột, đây là cách người ta trở nên bị rối loạn. Do đó Phật cho bạn một
chìa khoá bí mật. Đây là chiếc chìa khoá đó, cái có thể đưa bạn ra khỏi mọi sự
đồng nhất: đừng bị đồng nhất với tâm trí đạo đức - bởi vì điều đó nữa cũng là một
phần của tâm trí. Đấy là cùng một trò chơi: phần này nói tốt, phần khác nói xấu
- đấy là cùng tâm trí tạo ra xung đột trong bạn. Tâm trí bao giờ cũng hai mặt.
Tâm trí sống trong các cực đối lập. Nó yêu và nó ghét cùng một người; nó muốn
làm hành động này và nó không muốn làm hành động đó. Nó là xung đột, tâm trí là
xung đột. Đừng bị đồng nhất với cả hai.
Phật
nói: Trở thành chỉ là việc quan quan sát. Thấy rằng phần này đang nói cái này,
phần kia đang nói cái kia. "Mình không là cả hai - neti, neti, không cái
này không cái nọ - mình chỉ là nhân chứng." Chỉ thế thì mới có khả năng rằng
hiểu biết sẽ nảy sinh.
Tâm
trí không rối loạn, không còn tìm kiếm xem xét cái gì là phải và cái gì là
trái,
Tâm
trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và hiểu.
Vượt
ra ngoài phán xét về tốt và xấu là con đường của quan sát. Và chính là qua quan
sát mà biến đổi xảy ra. Đây là khác biệt giữa đạo đức và tôn giáo. Đạo đức nói,
"Chọn điều phải và bỏ điều trái. Chọn cái tốt và bỏ cái xấu." Tôn
giáo nói, "Đơn giản quan sát cả hai. Không chọn cái nào. Vẫn còn trong tâm
thức vô chọn lựa."
Tôn
giáo là rất, rất khác với đạo đức. Đạo đức là rất tầm thường, trần tục, xoàng
xĩnh; đạo đức không thể đưa bạn tới điều tối thượng, nó không phải là con đường
của điều thiêng liêng. Đạo đức chỉ là chiến lược của xã hội. Đó là lí do tại
sao điều này là đúng trong xã hội này và cũng điều đó là sai trong xã hội khác;
một điều được coi là tốt ở Ấn Độ và cùng điều đó bị coi là xấu ở Nhật Bản. Một
điều được coi là tốt hôm nay và có thể trở thành sai ngày mai. Đạo đức là sản
phẩm phụ của xã hội, nó là chiến lược của xã hội để kiểm soát. Nó là viên cảnh
sát bên trong bạn, viên quan toà bên trong bạn - nó là thủ đoạn của xã hội để
thôi miên bạn theo những quan niệm nào đó mà xã hội muốn áp đặt lên mọi người.
Cho nên nếu bạn được sinh ra trong gia đình ăn chay, người không ăn chay là kẻ
tội lỗi lớn nhất.
Một
sư Jaina có lần bảo tôi rằng "Tôi thích sách của ông, nhưng sao ông nhắc tới
cả Jesus, Mohammed và Ramakrishna cùng với Mahavira? Ông không nên nhắc tới họ
theo cùng một hàng. Mahavira là Mahavira - làm sao có thể so sánh ông ấy và đặt
ông ấy theo cùng cách, theo cùng phân loại với Jesus, Mohammed và Ramakrishna
được?"
Tôi
nói, "Sao không?"
Ông
ta nói, "Jesus uống rượu này, ăn thịt này - còn tội lỗi nào lớn hơn mà người
ta có thể phạm phải nữa?"
Mohammed
ăn thịt và lấy chín đàn bà! Người ta phải từ bỏ đàn bà - đây không chỉ một mà
những chín! Con số hoàn hảo. Thực ra, không có số thêm nữa; chín là số cuối
cùng, thế rồi lặp cùng số...
"Mohammed
lấy chín đàn bà, là người ăn thịt nữa - làm sao ông đặt Mohammed bằng Mahavira
được? Và làm sao ông đặt Ramakrishna ngang bằng Mahavira được? Ông ấy hay ăn
cá."
Người
Bengali thì nhất định là ăn cá rồi.
Chỉ
trích duy nhất của ông ta về sách của tôi là ở chỗ tôi đã đặt những người này
cùng nhau.
Bây
giờ hỏi người Ki tô giáo... Có lần tôi đã hỏi một nhà truyền giáo Ki tô giáo,
"Ông nói gì về sư Jaina này? Ông ta đã nói điều này... ông có phản đối gì
không?"
Ông
ta nói, "Chắc chắn! Làm sao ông đặt Mahavira ngang bằng Jesus được? Jesus
đã sống vì nhân loại, đã hi sinh đời mình vì nhân loại - Mahavira đã làm được
gì? Mahavira cực kì ích kỉ, ông ấy chỉ nghĩ tới mỗi cứu rỗi của riêng ông ấy
Ông ấy chẳng quan tâm tới người khác! Ông ấy chưa bao giờ chữa lành cho người mù,
ông ấy chưa bao giờ dựng dậy người chết từ cái chết. Ông ấy chỉ thiền trong mười
hai năm trên núi non, trong rừng rậm - còn gì ích kỉ hơn thế nữa...? Và thế giới
này đang đau khổ và mọi người đang trong nỗi đau lớn, còn ông ấy không tới an ủi
họ. Cái gì xa hoa hơn có thể có đó? Chỉ thiền bên sông trong rừng - còn gì xa
hoa hơn! Ông ấy đã làm gì cho nhân loại đáng thương này? Jesus đã hi sinh bản
thân mình - ông ấy đã sống và đã chết cho người khác. Toàn bộ cuộc sống của ông
ấy không là gì ngoài sự hi sinh thuần khiết. Làm sao ông có thể đặt Mahavira
ngang bằng với Jesus được?"
Và
ông ấy nữa cũng dường như phải. Bây giờ, bạn quyết định thế nào? Phật chưa bao
giờ chữa cho người bệnh, người mù, người điếc, người câm - chỉ thiền. Dường như
ích kỉ quá! Ông ấy đáng phải mở bệnh viện chứ, hay ít nhất thì cũng mở trường học;
phải phân phối thuốc, phải đi vào những vùng lụt lội và cứu trợ mọi người...
ông ấy chưa bao giờ làm cái gì như thế cả. Đây là cái loại tâm linh gì vậy?
Theo người Ki tô giáo, điều đó thuần tuý ích kỉ.
Bây
giờ, ai đúng? Và ai sẽ quyết định? Chúng ta sống theo định kiến của chúng ta.
Sư
Jaina này sai và nhà truyền giáo Ki tô giáo này cũng sai, bởi vì cả hai đều
phán xét - và phán xét là sai. Jesus là Jesus - ông ấy sống theo cách riêng của
ông ấy. Phật là Phật - ông ấy sống theo cách riêng của ông ấy. Các cá tính duy
nhất, các cách diễn đạt duy nhất của Thượng đế. Không ai là bản sao của người
khác, và không ai cần là bản sao của người khác. Và điều tuyệt vời là ở chỗ thế
giới có đa dạng. Nếu như chỉ có các Jesus và các Jesus lặp đi lặp lại, họ sẽ
trông giống như các xe Ford ra từ dây chuyền lắp ráp - mỗi giây một xe Ford xuất
xưởng, hệt nhau, đích xác cùng như nhau. Điều tuyệt vời là Jesus là một và đơn
giản là một và không lặp lại. Và điều tốt là Phật là mỗi mình và không lặp lại.
Người
tôn giáo thực sự có cách tiếp cận không phán xét. Nhà đạo đức không thể tránh
được việc phán xét, ông ta trở thành quan toà. Bây giờ, sư Jaina này, một người
bình thường, ngu xuẩn, sẵn sàng phán xét Jesus, Ramakrishna, Mohammed. Ông ta
chẳng biết gì, chẳng hiểu gì, chưa bao giờ thiền - chưa hiểu được bản thân
mình. Đó là lí do tại sao ông ta đã tới tôi.
Ông
ta đã tới tôi để hiểu thiền là gì và làm sao thiền. Thiền vẫn chưa xảy ra,
nhưng phán xét đã có đó rồi - và ông ta sẵn sàng phán xét ngay cả người như
Jesus, mà thậm chí không thấy xấu hổ về điều ông ta làm, không dụt dè, rất cao
ngạo. Và đấy cũng là trường hợp với nhà truyền giáo Ki tô giáo này! Ông ấy chẳng
biết gì về thiền, điều Phật đang làm, điều Mahavira đang làm. Ông ấy chẳng biết
gì về những con đường tinh tế mà theo đó vị phật hành động. Việc trở nên chứng
ngộ của ông ấy là phục vụ vĩ đại nhất có thể có cho nhân loại - không gì hơn có
thể được làm. Ông ấy chắc chắn không chữa được con mắt vật lí, nhưng ông ấy là
người đã chữa con mắt tâm linh của hàng nghìn người - và đó là phục vụ thực!
Ông ấy đã làm cho hàng nghìn người nghe, lắng nghe, hiểu - đó là phục vụ thực.
Nhưng
nhà truyền giáo Ki tô giáo này, bởi vì ông ta cai quản một trường phổ thông và
một bệnh viện, nên cứ cho mình là ai đó có quyền phán xét. Các nhà đạo đức bao
giờ cũng phán xét, người tôn giáo không bao giờ phán xét. Người đó sống trong
tâm thức vô phán xét.
Tâm
trí vượt ra ngoài mọi phán xét, quan sát và hiểu. Người đó đơn giản quan sát và
hiểu. Nếu Phật bắt gặp Jesus, ông ấy chắc hiểu ngay; nếu Jesus bắt gặp
Mahavira, ông ấy chắc hiểu ngay. Chỉ quan sát, thấy và có hiểu biết.
Biết
rằng thân thể là cái bình mảnh mai, và tạo nên lâu đài của tâm trí ông.
Với
'tâm trí' Phật ngụ ý tâm thức. Với 'tâm trí' Phật ngụ ý Tâm trí với chữ T hoa -
không phải là tâm trí thường mà bạn có mà là Tâm trí xảy ra khi mọi ý nghĩ đều
đã biến mất, khi tâm trí hoàn toàn trống rỗng ý nghĩ. Làm ra lâu đài của Tâm
trí của bạn đi bởi vì thân thể này sắp sửa chết - đừng phụ thuộc vào nó.
Trong
mọi thử thách
để
hiểu biết tranh đấu cho ông
để
bảo vệ điều ông có được.
Và
liên tục nhớ lấy, bởi vì cuộc tranh đấu là lâu dài, và cuộc hành trình là gian
nam. Nhiều lần bạn sẽ ngã và quên, nhiều lần bạn sẽ bắt đầu phán xét. Nhiều lần
bạn sẽ bắt đầu bị đồng nhất với cái này cái nọ, nhiều lần bản ngã sẽ tự khẳng định
nó lặp đi lặp lại. Bất kì khi nào bản ngã tự khẳng định nó, bất kì khi nào đồng
nhất xảy ra, bất kì khi nào phán xét nảy sinh, ngay lập tức nhớ: quan sát, đơn
giản quan sát, và sẽ có hiểu biết.
Và
hiểu biết là bí mật của biến đổi. Nếu bạn có thể hiểu được giận dữ, lập tức bạn
sẽ được mưa rào lên bằng từ bi. Nếu bạn có thể hiểu được dục, lập tức bạn sẽ đạt
tới samadhi. 'Hiểu biết' là từ quan trọng nhất cần nhớ.
Vì
chẳng mấy chốc thân thể này sẽ bị bỏ đi. Vậy nó cảm thấy cái gì?
Khúc
gỗ vô dụng, nằm trên đất. Vậy nó biết gì?
Đừng
phụ thuộc vào thân thể và đừng vẫn còn bị giam cầm trong thân thể. Dùng nó,
kính trọng nó, yêu thương nó, chăm sóc nó, nhưng nhớ: bạn phải rời bỏ nó một
ngày nào đó. Nó chỉ là cái lồng, nó sẽ bị bỏ đằng sau, và con chim sẽ ra đi.
Trước khi điều đó xảy ra, chăm nom cho con chim nữa. Lau sạch tâm thức bạn, bởi
vì nó sẽ đi cùng bạn. Hiểu biết của bạn sẽ đi cùng bạn, không cùng thân thể bạn.
Cho
nên đừng phí thời gian quá nhiều trong việc trang trí cho nó bằng mĩ phẩm trang
điểm, bằng quần áo, bằng đồ trang sức - đừng phí quá nhiều thời gian với thân
thể, bởi vì thân thể thuộc về đất và đất sẽ đòi nó lại. Cát bụi trở về với cát
bụi. Bạn không thuộc vào đất, bạn thuộc vào cõi bên kia nào đó, chỗ nào đó
không biết. Nhà bạn là ở trong cái không biết, ở đây bạn chỉ là khách thăm. Tận
hưởng cuộc viếng thăm này và dùng nó nhiều nhất có thể được để trưởng thành
trong hiểu biết và chín muồi, để cho bạn có thể đem về nhà chín chắn của bạn,
hiểu biết của bạn, trí huệ của bạn.
Kẻ
thù tồi tệ nhất của ông không thể làm hại ông nhiều như các ý nghĩ riêng, khinh
suất của ông.
Khi
các ý nghĩ không được canh giữ, không được quan sát, tâm trí bạn là kẻ thù lớn
nhất của bạn.
Nhưng
một khi bị nó khống chế, không ai có thể giúp ông được mấy, cho dù cả bố hay mẹ
ông.
Nhưng
cùng tâm trí đó, nếu bị làm chủ - bị làm chủ bởi tính quan sát, bị làm chủ bởi
thiền - được biến đổi. Nó trở thành người bạn lớn lao nhất. Không ai có thể giúp
bạn được nhiều như nó.
Tâm
trí là chiếc thang: không được canh giữ nó đưa bạn đi xuống, được canh giữ nó
đưa bạn đi lên. Vẫn cùng chiếc thang đó! Tâm trí là cánh cửa: không được canh
giữ nó đưa bạn ra ngoài, được canh giữ nó đưa bạn vào trong. Cùng tâm trí đó
không được canh giữ trở thành giận dữ, hận thù, ghen tị; được canh giữ nó trở
thành từ bi, tình yêu, ánh sáng.
Có
tính quan sát, thức tỉnh, tỉnh táo, không phán xét đi. Đừng là nhà đạo đức: tạo
ra tâm thức tôn giáo. Và với "tâm thức tôn giáo" điều đó được ngụ ý
nhận biết vô chọn lựa. Để cho cụm từ này chìm sâu vào trong tim bạn: nhận biết
vô chọn lựa. Đây là chính tinh tuý của giáo huấn của Phật - aes dhammo
sanantano.
Đủ
cho hôm nay.
Xem Chương 2 - Quay về Mục lục


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment