Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 5)
Chương
3. Điều bạn muốn bạn sẽ trở thành
Tôi
tìm vô vọng người xây nhà tôi qua vô hạn kiếp sống.
Tôi
không tìm được người đó...
Đi
vào kiếp sau khó thế!
Nhưng
bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây nhà!
Và
không bao giờ ông sẽ xây nhà của tôi.
Tôi
đã rút rui nhà,
Chẻ
thanh ngang ra
Và
ham muốn đã bị dập tắt.
Và
bây giờ tâm trí tôi tự do.
Không
có cá trong hồ.
Con
sếu cẳng dài đứng trong nước.
Thật
buồn cho người khi còn trẻ
sống
phóng túng và hoang phí của cải của mình
Thật
buồn cung đã gãy,
Và
người đó thở dài buồn bã
Sau
khi tất cả đã nảy sinh và đã mất đi.
Phật
Gautama là bước đột phá vĩ đại nhất mà nhân loại đã từng biết tới cho tới giờ.
Thời gian đáng ra không nên được phân chia theo tên của Jesus Christ; nó nên được
phân chia theo tên của Phật Gautam. Chúng ta nên phân chia lịch sử thành trước
Phật và sau Phật, không phải là trước Christ và sau Christ, bởi vì Christ không
phải là một đột phá; ông ấy là sự liên tục. Ông ấy đại diện cho quá khứ trong
cái đẹp và cái vĩ đại vô cùng của nó. Ông ấy là chính tinh hoa của toàn thể việc
tìm kiếm của nhân loại trước ông ấy. Ông ấy là hương thơm của tất cả nỗ lực quá
khứ của con người để biết Thượng đế, nhưng ông ấy không phải là bước đột phá.
Theo nghĩa thực của từ này thì ông ấy không phải là người nổi dậy. Phật là người
nổi dậy, nhưng Jesus có vẻ có tính nổi dậy hơn Phật bởi lẽ đơn giản là việc nổi
dậy của Jesus là hữu hình còn việc nổi dậy của Phật là vô hình.
Bạn
sẽ cần sáng suốt lớn lao để hiểu điều Phật đã đóng góp cho tâm thức nhân loại,
cho tiến hoá nhân loại, cho trưởng thành của nhân loại. Con người chắc đã không
được như vậy nếu như đã không có Phật. Con người chắc vẫn còn như cũ nếu như đã
không có Christ, không có Krishna; chắc sẽ không có mấy khác biệt. Loại bỏ Phật
và cái gì đó cực kì quan trọng bị mất đi; nhưng nổi dậy của ông ấy là rất vô
hình, rất tinh tế.
Trước
Phật, việc tìm kiếm - việc tìm kiếm tôn giáo - về nền tảng đã là mối quan tâm tới
Thượng đế: một Thượng đế ở bên ngoài, một Thượng đế ở đâu đó trên trời. Việc
tìm kiếm tôn giáo cũng đã liên quan tới một đối thể của ham muốn, cũng nhiều
như việc tìm kiếm trần tục. Phàm nhân tìm tiền, quyền, danh, và người thế giới
khác tìm kiếm Thượng đế, cõi trời, vĩnh hằng, chân lí. Nhưng một điều là chung:
cả hai đều tìm kiếm ở bên ngoài bản thân họ, cả hai đều hướng ngoại. Nhớ từ
này, bởi vì điều này sẽ giúp cho bạn hiểu Phật.
Trước
Phật, việc tìm kiếm tôn giáo đã không quan tâm tới bên trong mà tới bên ngoài;
nó là hướng ngoại, và khi tìm kiếm tôn giáo mà hướng ngoại nó không thực có
tính tôn giáo. Tôn giáo bắt đầu chỉ với hướng nội, khi bạn bắt đầu chìm sâu vào
bên trong bản thân mình.
Mọi
người đã đi tìm Thượng đế trong nhiều thế kỉ: Ai là người xây dựng ra vũ trụ
này? Ai là đấng sáng tạo của vũ trụ này? Và có nhiều người vẫn sống vào thời tiền
Phật, những người vẫn đang hỏi các câu hỏi như vậy: Ai là đấng sáng tạo của thế
giới? Khi nào ngài đã tạo ra thế giới? Có một số người ngu thậm chí đã từng xác
định ngày, ngày tháng và năm Thượng đế đã tạo ra thế giới. Có những nhà thượng
đế học Ki tô giáo nói rằng đích xác bốn nghìn linh bốn năm trước Jesus Christ -
Thứ hai, ngày mồng một tháng giêng! - Thượng đế đã tạo ra thế giới hay đã bắt đầu
sáng tạo ra thế giới, và ngài đã kết thúc công việc này trong sáu ngày. Chỉ một
điều là đúng về nó: rằng ngài phải đã kết thúc công việc này trong sáu ngày, bởi
vì bạn có thể thấy đống lộn xộn mà thế giới này đang trong đó - nó là công việc
của sáu ngày mà! Và kể từ đó ngài đã không được nghe nói tới nữa. Vào ngày thứ
bẩy ngài nghỉ ngơi, và kể từ đó ngài đã nghỉ suốt...
Có
thể Friedrich Nietzsche là đúng, rằng ngài không nghỉ ngơi đâu - ngài chết rồi!
Ngài đã không biểu lộ bất kì mối quan tâm nào. Thế thì điều gì đã xảy ra cho sự
sáng tạo của ngài? Nó dường như đã hoàn toàn bị quên lãng. Nhưng người Ki tô
giáo nói, "Không, ngài đã không quên đâu. Trông đấy! Ngài đã phái Jesus
Christ, con trai duy nhất của ngài, tới cứu thế giới. Ngài vẫn quan tâm chứ."
Đó là mối quan tâm duy nhất mà người Ki tô giáo nói ngài đã biểu lộ, trong việc
phái Jesus Christ tới... nhưng thế giới lại không được cứu. Nếu đó là mục đích
của việc phái Jesus Christ tới thế giới này, thế thì Jesus đã thất bại và qua
ông ấy Thượng đế đã thất bại - thế giới vẫn như cũ. Và đây là cái loại quan tâm
gì vậy - rằng sứ giả của ngài đã bị đóng đinh và ngài chẳng thể làm gì được?
Có
nhiều người vẫn đang sống trong thế giới quan tiền Phật.
Phật
đã thay đổi toàn thể chiều hướng tôn giáo, ông ấy đã cho nó một bước ngoặt đẹp:
ông ấy đã hỏi những câu hỏi thực. Ông ấy không phải là nhà siêu hình, ông ấy
chưa bao giờ hỏi câu hỏi siêu hình nào; với ông ấy siêu hình toàn là rác rưởi.
Ông ấy là nhà tâm lí học đầu tiên mà thế giới biết tới, bởi vì ông ấy đã đặt
tôn giáo của mình không dựa trên triết học mà dựa trên tâm hồn học. Tâm hồn học
theo nghĩa nguyên thuỷ của nó nghĩa là khoa học về linh hồn, khoa học về cái
bên trong.
Ông
ấy đã không hỏi: Ai tạo ra thế giới? Ông ấy hỏi: Tại sao tôi ở đây? Tôi là ai?
Ai tạo ra tôi? Và đó không phải là câu hỏi về quá khứ - "Ai đã tạo ra
tôi?" - chúng ta thường xuyên được tạo ra. Cuộc sống của chúng ta không giống
như vật được tạo ra một lần cho tất cả; nó không phải là một vật. Nó là hiện tượng
trưởng thành, nó là sự chảy của sông. Từng khoảnh khắc nó đi qua vùng lãnh thổ
mới. "Ai tạo ra cuộc sống này, năng lượng này, tâm trí này, thân thể này,
tâm thức này, cái tôi đang vậy?" Câu hỏi của ông ấy là khác toàn bộ. Ông ấy
đang biến đổi tôn giáo từ hướng ngoại thành hướng nội.
Tôn
giáo hướng ngoại cầu nguyện Thượng đế; tôn giáo hướng nội thiền. Lời cầu nguyện
là hướng ngoại; nó được nói cho Thượng đế vô hình nào đó. Ngài có thể có đó,
ngài có thể không có đó - bạn chẳng thể đảm bảo hay chắc chắn được; hoài nghi
nhất định còn dai dẳng. Do đó mọi lời cầu nguyện đều được bắt rễ ở đâu đó trong
hoài nghi, trong sợ hãi, trong bất định, trong tham lam.
Thiền
được bắt rễ trong bạo dạn, trong vô tham. Thiền không cầu xin cái gì từ bất kì
ai, nó không hướng tới bất kì ai. Thiền là trạng thái của im lặng bên trong. Lời
cầu nguyện vẫn còn ồn ào, bạn vẫn còn nói - nói với Thượng đế, người có thể
không có đó. Thế thì điều đó là không lành mạnh, thần kinh; bạn đang cư xử theo
cách điên khùng. Người điên cứ nói hoài; họ không bận tâm nhiều liệu có ai nghe
họ hay không. Đó là dấu hiệu chắc chắn rằng họ điên - họ tưởng tượng rằng ai đó
có đó; không chỉ thế, họ gần như có thể thấy người khác. Quán tưởng của họ là lớn,
tưởng tượng của họ là rất chất liệu. Họ có khả năng thay đổi hình bóng thành chất
liệu, tưởng tượng thành hiện thực, hư cấu thành sự kiện. Với bạn họ dường như
tham dự vào cuộc độc thoại; với bản thân mình, họ đang tham dự vào đối thoại rồi.
Bạn không thể thấy được ai đang hiện diện ở đó - một mình họ thôi - nhưng họ thấy
rằng ai đó có đó.
Chính
bởi vì sự kiện này mà phân tâm học rất thận trọng về tôn giáo, bởi vì người tôn
giáo hành xử như người thần kinh. Và có nhiều nhà phân tâm nghĩ rằng tôn giáo
chẳng là gì ngoài bệnh thần kinh của đám đông - và họ có một điểm đúng: tôn
giáo hướng ngoại là bệnh thần kinh của đám đông.
Nhưng
nhà phân tâm phải chưa trở nên nhận biết về Phật. Phật sẽ cho họ sáng suốt mới
nhìn vào tôn giáo, vào tôn giáo đúng. Không có lời cầu nguyện, không Thượng đế.
Thiền không phải là đối thoại, hay thậm chí độc thoại - thiền là im lặng thuần
khiết.
Mọi
người hỏi tôi, "Đối tượng của thiền nên là gì?" Họ đang hỏi câu hỏi
sai, nhưng tôi có thể hiểu được tại sao họ hỏi nó. Họ đã sống trong tôn giáo của
lời cầu nguyện, và lời cầu nguyện không có được nếu không có ai ở đó để mà cầu
nguyện. Lời cầu nguyện cần đối tượng của tôn thờ; lời cầu nguyện là sự phụ thuộc.
Người tôn thờ không độc lập; người đó phụ thuộc vào đối tượng của sự tôn thờ của
mình và người đó cũng sợ.
Nhưng
thiền nhân không có đối tượng nào. Thiền không ngụ ý thiền về cái gì đó. Từ tiếng
Anh 'meditation' cho quan niệm sai; trong tiếng Anh không có từ nào để dịch từ
Phật giáo dhyana. Thực ra, không ngôn ngữ nào khác của thế giới có từ tuyệt đối
đồng nghĩa với dhyana. Chính bởi vì sự kiện này mà khi Phật giáo đạt tới Trung
Quốc họ đã không thể nào dịch được nó sang tiếng Trung Quốc; do đó dhyana trở
thành ch'an - nó là cùng một từ. Từ tiếng Phạn là dhyana, nhưng Phật dùng tiếng
Pali, ngôn ngữ khác, ngôn ngữ đã được hiểu bởi những người mà ông ấy đã sống
cùng. Trong tiếng Pali, dhyana trở thành jhana; từ jhana, trong tiếng Trung Quốc
nó trở thành ch'an, và từ ch'an, trong tiếng Nhật Bản nó trở thành zen. Tiếng
Trung Quốc không có tương đương, tiếng Nhật Bản không có tương đương. Thực ra,
không ngôn ngữ nào khác có từ tương đương bởi vì không ngôn ngữ nào khác đã cho
sinh thành ra một người như Phật. Và không có Phật thì không thể nào cho nghĩa
mới này, cách nhìn mới này, chiều hướng mới này.
Trong
tiếng Anh, 'meditation - thiền' nghĩa là ngẫm nghĩ về cái gì đó; nhưng thế thì
đó là suy nghĩ, nhiều nhất là suy tư thôi - nó không phải là thiền. Thiền nghĩa
là có tính thiền, im lặng, an bình, không có ý nghĩ trong tâm trí, tâm thức
không có nội dung. Đó là nghĩa đúng của thiền: tâm thức thuần khiết, tấm gương
phản chiếu cái không. Khi tấm gương không phản chiếu cái gì, nó là thiền.
Phật
đã làm rẽ ngoặt toàn thể cuộc truy tìm tôn giáo từ siêu hình vào tâm hồn vĩ đại,
bởi vì ông ấy hỏi: Nguyên nhân của sống của tôi và chết của tôi là gì? Ông ấy
không quan tâm tới vũ trụ. Ông ấy nói: Chúng ta nên bắt đầu từ cái bắt đầu, và
bất kì cái gì, để có ý nghĩa thực trong cuộc sống, đều phải có liên quan tới
chính bản thân tôi: tôi là ai và tại sao tôi hiện hữu? Nguyên nhân gì cứ tạo ra
tôi?
Lời
kinh thứ nhất của ông ấy là:
Tôi tìm vô vọng người xây nhà tôi qua vô hạn
kiếp sống.
Ông
ấy đang nói, "Tôi đã từng tìm và kiếm Thượng đế trong vô hạn kiếp. Tất cả
đều vô vọng, điều đó là vô tích sự. Tôi không thể tìm thấy được Thượng đế nào,
bởi vì thực ra Thượng đế không phải là người và ông không thể tìm được ngài.
Thượng đế không phải là một 'ông'."
Bây
giờ có tranh luận gay gắt về liệu Thượng đế là ông hay là bà. Ngài không là cả
hai. Và nếu bạn cứ khăng khăng rằng chúng ta phải chọn giữa hai từ này, 'ông'
và 'bà', tôi sẽ gợi ý rằng 'bà' là tốt hơn nhiều bởi vì bà chứa ông, nhưng ông
không chứa bà. Nhưng trong chân lí, Thượng đế không là người chút nào; do đó
câu hỏi về liệu ngài là ông hay bà là không liên quan.
Thượng
đế là tính chất, không là vật. Thượng đế không phải là Thượng đế mà là tính thượng
đế - và tính thượng đế phải được tìm thấy trước hết ở bên trong bản thân bạn.
Chừng nào bạn còn chưa nếm trải về nó trong bản thể riêng của mình bạn sẽ không
có khả năng thấy nó ở bất kì đâu khác. Một khi bạn đã nếm trải nó, một khi bạn
đã trở nên say sưa với điều thiêng liêng, thế thì bạn sẽ thấy điều đó trong cây
cối - trong xanh của cây, trong đỏ của cây, trong vàng của cây. Bạn sẽ thấy nó
trong mặt trời, trong mặt trăng, trong các vì sao. Bạn sẽ có khả năng thấy nó
trong con vật, chim chóc, mọi người, sông, núi. Toàn thể sự tồn tại sẽ phản xạ
hiểu biết của bạn, sẽ trở thành tấm gương cho bạn. Bạn sẽ có khả năng thấy
khuôn mặt riêng của mình ở mọi nơi. Chúng ta có thể thấy cái chúng ta đang vậy,
chúng ta không thể thấy cái chúng ta không là.
Đây
là đóng góp vĩ đại của Phật: ông ấy đã vứt bỏ lời cầu nguyện, ông ấy đã vứt bỏ
ý niệm về Thượng đế, và ông ấy cho một cách tiếp cận mới - cách tiếp cận mới đó
là thiền.
Ông
ấy nói: Tôi tìm vô vọng người xây nhà của tôi qua vô hạn kiếp sống. Tôi không
tìm được người đó... Không phải bởi vì cái gì đó bị thiếu trong nỗ lực của ông ấy,
không phải bởi vì nỗ lực của ông ấy là bộ phận và không toàn bộ, không. Ông ấy
không phải là loại người đó: nỗ lực của ông ấy toàn bộ tới mức nó không thể nào
toàn bộ được hơn nữa. Chính bởi vì nỗ lực toàn bộ của ông ấy mà ông ấy đã đi tới
hiểu biết vĩ đại này, mà ông ấy đã đi tới việc nhận ra vĩ đại này.
Ông
ấy đi tới đủ mọi loại thầy giáo và bất kì điều gì thầy giáo bảo ông ấy làm, ông
ấy đều làm nó với đam mê, mãnh liệt tới mức không thầy nào có khả năng tìm ra bất
kì lỗi nào với ông ấy. Và bất kì nhiệm vụ nào được trao cho ông ấy, ông ấy bao
giờ cũng hoàn thành nó. Và điều đó đã xảy ra với nhiều thầy tới mức chung cuộc
họ đã nói với ông ấy, "Đây là tất cả những gì chúng ta biết, và chúng ta
không thể nói rằng anh đã không theo chúng ta. Anh đã theo toàn bộ tới mức
không có vấn đề gì về sự chân thành và việc tìm kiếm của anh, nhưng hơn thế nữa
chúng ta không biết. Anh sẽ phải đi và tìm thầy nào đó khác - đây là tất cả những
điều chúng ta biết. Chúng ta rất tiếc là chúng ta không thể giúp được anh thêm
nữa. Và nếu bất kì lúc nào anh có thể tìm thấy cái gì đó hơn điều này, nhớ tới
chúng ta, và nếu chúng ta vẫn còn sống, truyền việc nhận ra mới của anh cho
chúng tôi."
Điều
này rất hãn hữu mới xảy ra. Bao giờ cũng dễ dàng tìm ra lỗi ở đệ tử, và nếu đệ
tử phạm lỗi, thế thì chắc chắn thầy, cái gọi là thầy, thấy thoải mái. Đệ tử thực
là nguy hiểm đối với thầy rởm, bởi vì với đệ tử thực giả dối của ông ấy sớm hay
muộn sẽ bị phơi bầy ra. Chính bởi vì đệ tử rởm mà thầy rởm mới sống được. Và có
nhiều người tìm kiếm rởm... chỉ vì tò mò thôi, họ tìm kiếm chỉ vì tò mò; nó
không có tính tồn tại. Rất hãn hữu tìm thấy một đệ tử như Phật, bởi vì nếu bạn
tìm thấy một đệ tử như Phật, sớm hay muộn, hoặc bạn sẽ được chứng minh là đúng
qua biến đổi của người đó, hoặc bạn sẽ được chứng minh là rởm. Nhưng bạn không
thể trách ông ấy được, bởi vì ông ấy sẽ đặt toàn bộ năng lượng của ông ấy vào
trong nỗ lực này.
Phật
đã thử mọi cách có thể có. Ông ấy đã đi tới tất cả những thầy giáo nổi tiếng và
không nổi tiếng lắm những người đã sống trong nước này, và từ mọi nơi ông ấy đều
quay về với đôi bàn tay trống rỗng. Cuối cùng ông ấy đã quyết định, "Có
cái gì đó sai trong việc hỏi người khác, có cái gì đó sai về căn bản trong việc
đi đằng sau người khác, theo người khác. Tốt hơn cả, đã đến lúc, mình phải chìm
sâu vào bên trong bản thân mình, đến lúc mình phải tìm và kiếm một mình
thôi." Và đó là cách thiền được sinh ra.
Phật
đã vứt bỏ mọi nỗ lực hướng ngoại, đã trở nên hướng nội toàn bộ, toàn thể năng
lượng của ông ấy quay vào trong. Ông ấy bắt đầu điều chỉnh bản thân mình vào cốt
lõi bên trong nhất của mình. Thượng đế không thể được tìm thấy ở bên ngoài bạn
đâu, bởi vì không có Thượng đế nào đã bao giờ ở bên ngoài bạn cả. Thượng đế là
hương thơm tối thượng của tâm thức bạn. Khi tâm thức bạn mở ra như hoa sen,
hương thơm được thoát ra này chính là Thượng đế - tốt hơn nên gọi nó là tính
thượng đế.
Thượng
đế không phải là danh từ mà là động từ. Để điều này chìm sâu vào trong tim bạn:
rằng Thượng đế không phải là danh từ mà là động từ. Thực ra, toàn thể sự tồn tại
là động từ. Đổi tất cả danh từ của bạn thành động từ đi và bạn sẽ ở đường đúng,
bởi vì mọi thứ đều sống và tuôn chảy - làm sao bạn có thể gọi nó là danh từ được?
Danh từ cho một ý niệm cố định. Danh từ bao giờ cũng chết và động từ bao giờ
cũng sống.
Và
Thượng đế là sống. Ngài là sự sống trong bạn, ngài là sự sống trong tôi, ngài
là sự sống trong chim chóc. Bất kì chỗ nào có sự sống, có Thượng đế; Thượng đế
đồng nghĩa với sự sống.
Tôi
tìm vô vọng người xây nhà của tôi qua vô hạn kiếp sống. Đó đã là hiểu lầm và,
không may là, hiểu lầm này vẫn cứ còn dai dẳng. Thay vì đi tìm cái ta riêng của
mình, mọi người cứ đi tìm Thượng đế. Họ sẽ không tìm thấy Thượng đế, và trong
khi đó họ bỏ lỡ cơ hội tìm thấy bản thân mình.
Chính
từ 'Thượng đế' đã tạo ra rắc rối. Bắt đầu dùng 'tính thượng đế', 'điều thiêng
liêng', 'tình yêu' đi. Vứt Thượng đế đó đi! Từ 'Thượng đế' có vẻ giống như tảng
đá chết: không tuôn chảy, không chuyển động, không phát triển. Để Thượng đế của
bạn trở thành dòng sông.
Nhớ
tới Siddhartha của Herman Hesse: ông ấy đã biết những cõi giới sâu nhất của thiền
bằng việc sống bên bờ sông, nhìn dòng sông trong những tâm trạng khác nhau,
trong các mùa khác nhau. Vào mùa hè nó mảnh mai thế, như một đường kẻ bạc, và
vào mùa mưa nó ngập lụt thế. Và đôi khi nó im lặng thế và nhạc điệu thế, và đôi
khi nó có vẻ giận dữ thế, trong thịnh nộ; đôi khi nó từ bi thế, và đôi khi nó độc
ác thế. Chỉ ngồi trên bờ sông, dần dần, dần dần ông ấy trở nên nhận biết về cuộc
sống vĩ đại của dòng sông, xúc động của nó, tâm trạng của nó...
Điều
đầu tiên bố tôi dạy tôi - và điều duy nhất ông ấy đã từng dạy tôi - là tình yêu
với dòng sông nhỏ chảy ngay bên cạnh thị trấn của tôi. Ông ấy đã dạy tôi chỉ mỗi
điều này - bơi trong dòng sông. Đó là mọi điều ông ấy đã từng dạy tôi, nhưng
tôi vô cùng biết ơn ông ấy bởi vì điều đó đã đem lại biết bao nhiêu thay đổi
trong đời tôi. Đích xác như Siddhartha, tôi đã rơi vào tình yêu với dòng sông
này. Bất kì khi nào tôi nghĩ về nơi sinh của mình tôi chẳng nhớ gì ngoại trừ
dòng sông này.
Cái
ngày bố tôi mất đi tôi chỉ nhớ ngày đầu tiên ông ấy đã đem tôi tới bờ sông để dạy
tôi bơi. Toàn bộ tuổi thơ tôi đã dành cho chuyện tình thân thiết với dòng sông.
Việc thường ngày của tôi là ở bên sông trong ít nhất năm tới tám tiếng. Từ ba
giờ sáng tôi đã ở bên sông; bầu trời đầy sao và sao phản chiếu trong dòng sông.
Và nó là dòng sông đẹp; nước của nó ngọt tới mức mọi người đã đặt tên cho nó là
Shakkar - shakkar nghĩa là đường. Đó là một hiện tượng đẹp.
Tôi
đã thấy nó trong bóng tối của ban đêm với các vì sao, nhảy múa trong quá trình
của nó đi ra đại dương. Tôi đã thấy nó cùng với mặt trời mọc buổi sớm. Tôi đã
thấy nó trong buổi trăng tròn. Tôi đã thấy nó cùng mặt trời lặn. Tôi đã thấy nó
khi ngồi cạnh bờ sông một mình hay cùng bạn bè, thổi sáo, nhảy múa trên bờ, thiền
trên bờ, chèo thuyền trong nó hay bơi qua nó. Trong mùa mưa, trong mùa đông,
trong mùa hè...
Tôi
có thể hiểu Siddhartha của Herman Hesse và kinh nghiệm của ông ấy với dòng sông.
Điều đó đã xảy ra đối với tôi: nhiều điều đã xảy ra, bởi vì dần dần, dần dần,
toàn thể sự tồn tại trở thành dòng sông với tôi. Nó mất đi tính vững chắc; nó
trở thành lỏng, chất lỏng.
Và
tôi biết ơn vô cùng với bố tôi. Ông ấy chưa bao giờ dạy tôi toán học, ngôn ngữ,
văn phạm, địa lí, lịch sử. Ông ấy chưa bao giờ quan tâm tới việc giáo dục của
tôi. Ông ấy có mười con... và tôi đã thấy điều đó xảy ra nhiều lần: mọi người sẽ
hỏi, "Con ông đang học lớp nào thế?" - và ông ấy sẽ phải hỏi ai đó
khác bởi vì ông ấy không biết. Ông ấy chưa bao giờ bận tâm tới bất kì việc giáo
dục nào khác. Việc giáo dục duy nhất mà ông ấy cho tôi là giao cảm với dòng
sông. Bản thân ông ấy cũng trong tình yêu sâu sắc với dòng sông này.
Bất
kì khi nào bạn đang trong tình yêu với những thứ tuôn chảy, những thứ chuyển động,
bạn có cách nhìn khác về cuộc sống. Con người hiện đại sống với những con đường
trải nhựa, những toà nhà xi măng và bê tông. Đây là các danh từ, nhớ lấy, đây
không phải là động từ. Các toà nhà chọc trời không tiếp tục mọc cao lên; con đường
vẫn còn như cũ dù đó là đêm hay ngày, dù đó là đêm trăng tròn hay đêm tối mù mịt.
Chẳng thành vấn đề đường trải nhựa, chẳng thành vấn đề với các toà nhà xi măng
và bê tông.
Con
người đã tạo ra thế giới các danh từ và con người đã trở nên bị giam cầm trong
thế giới riêng của mình. Con người đã quên mất thế giới của cây cối, thế giới của
dòng sông, thế giới của núi non và các vì sao. Ở đó chúng không biết tới danh từ
nào, chúng đã không nghe nói tới danh từ; chúng chỉ biết động từ. Mọi thứ đều
là quá trình.
Thượng
đế không phải là vật mà là quá trình. Nhưng từ có thể dẫn bạn đi lạc lối. Từ
'Thượng đế' này đã đưa hàng triệu người có ý niệm sai lạc. Nó cho bạn một ý niệm,
một ý niệm rất ngây thơ tất nhiên, nhưng một khi nó lắng đọng trong bạn, bạn
mang nó đi cả đời mình. Bạn có một ý niệm về Thượng đế: một người nào đó trông
rất cổ kính với chòm râu trắng dài, ngồi trên ngai vàng tít trên trời, cai trị,
ra lệnh, chỉ huy toàn thế giới. Và bất kì ai không nghe lời ông ta đều phải chịu
khổ nhiều - một người bố rất độc đoán. Ông ấy vẫn chưa tha thứ cho Adam và Eve
bởi vì họ đã không vâng lời ông ấy.
Trong
vườn Eden có hai cây: một cây được biết là cây tri thức và cây kia là cây cuộc
sống. Thượng đế đã nói, "Không được ăn từ hai cây này." Nhưng trẻ con
vẫn cứ là trẻ con - nếu bạn cấm chúng không cho làm cái gì đó chúng nhất định sẽ
làm nó. Rắn không cần thiết; đó chỉ là một phương kế, một chiến lược cổ điển của
con người, để đổ trách nhiệm lên ai đó khác. Chính bản thân Eve là người trở
nên tò mò.
Họ
đã không vâng lời Thượng đế và Thượng đế trở nên sợ hãi: "Bây giờ chúng nó
đã ăn quả của cây tri thức - chẳng mấy chốc chúng sẽ thấy cây kia và chúng sẽ
ăn quả của cuộc sống, và thế rồi chúng sẽ trở thành vĩnh viễn như các thần."
Và ông ấy trở nên rất ghen tị, bởi vì một khi họ đã ăn từ cây tri thức, họ sẽ
có khả năng tìm ra cây cuộc sống; điều đó sẽ không lâu. Chẳng mấy chốc họ sẽ
tìm thấy nó. Họ đã trở nên đủ khôn ngoan, và người khôn ngoan nhất định tìm và
kiếm cái bất tử. Sợ rằng họ sẽ trở nên giống như các thần, Thượng đế đã tống họ
ra khỏi vườn Eden và đóng cửa lại. Bây giờ có những lưỡi kiếm tuốt trần ngăn cản
con người vào lại thiên đường.
Đây
là khái niệm rất trẻ con về Thượng đế, lấy con người làm trung tâm. Nhưng hàng
triệu người vẫn sống với ý niệm này về Thượng đế. Điều đó là việc hiểu sai vô
cùng. Trẻ con có thể được tha thứ, nhưng bạn không thể được tha thứ.
Ông
già Lindley ngồi xuống cạnh bàn bác sĩ. "Cụ có chuyện gì vậy?" bác sĩ
điều trị hỏi.
"Thế
này, thưa bác sĩ, sau lần thứ nhất tôi mệt lắm. Sau lần thứ hai, tôi chạm vào tất
cả. Sau lần thứ ba, tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Sau lần thứ tư, tôi toát mồ
hôi lạnh. Và sau lần điều thứ năm, tôi kiệt sức tới mức tôi có thể chết!"
"Quái
đản!" bác sĩ nói. "Cụ bao nhiêu tuổi rồi?" "Bẩy mươi
sáu."
"Này,
vào tuổi bẩy mươi sáu, cụ không nghĩ rằng cụ phải dừng lại sau lần thứ nhất
sao?"
"Nhưng
bác sĩ ơi," ông già Lindley kêu lên, "làm sao tôi có thể dừng sau lần
thứ nhất được khi tôi đang sống ở lần thứ năm?"
Từ
có thể có tính rất lừa dối - và từ 'Thượng đế' đã lừa dối hàng triệu người. Phật
là người đầu tiên nhận ra giả dối này. Do đó tôi nói chúng ta nên phân chia lịch
sử theo Phật, không nên theo Christ - trước Phật, sau Phật - bởi vì ông ấy đem
tới cách nhìn toàn bộ và mới thế cho nhân loại. Ông ấy đem tới ý niệm mới về
Thượng đế: ý niệm về tính thượng đế. Với Phật, nhân loại trở nên chín chắn; nó
vứt bỏ các khái niệm trẻ con.
Tôi
không tìm được người đó...
Tất
nhiên không có khả năng nào để tìm thấy người đó rồi. Không ai đã bao giờ tìm thấy
Thượng đế; nhiều người đã tìm thấy tính thượng đế nhưng không ai đã bao giờ tìm
thấy Thượng đế.
Đi
vào kiếp sau khó thế!
Và
Phật nói: Không biết mình là ai, không biết ý nghĩa của cuộc sống, không biết
nghĩa, mục đích và định mệnh... Đi vào kiếp sau khó thế. Điều đó là khó, nó khuấy
động, nó gây chán, nó là gánh nặng.
Socrates
nói: Cuộc sống không được xem xét là việc sống không xứng đáng. Phật chắc là đồng
ý với ông ấy. Vâng, cuộc sống không được xem xét là việc sống không xứng đáng,
bởi vì cuộc sống không được xem xét không phải là cuộc sống chút nào. Nó chỉ là
việc mang tải trọng, lê lết đi - bằng cách nào đó kéo lê tới cái chết của bạn.
Chân bạn sẽ không có điệu vũ cho chúng và tim bạn sẽ không có bài ca trong nó.
Bạn sẽ hoàn toàn không có kết quả, bất lực, vô tích sự. Và bạn càng thông minh,
bạn càng nhạy cảm, bạn càng có thể thấy rõ ràng vấn đề.
Và
Phật là một trong những người nhạy cảm nhất đã từng bước đi trên đất.
Nhưng
bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây nhà! Và không bao giờ ông sẽ xây nhà của
tôi.
Đây
là một trong những lời kinh quan trọng nhất. Suy ngẫm về nó, cân nhắc về nó, bởi
vì nó cũng đã từng bị hiểu lầm rồi.
Khi
Phật nói: Nhưng bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây nhà! Nhiều người đã cho rằng
ông ấy ngụ ý ông ấy đã thấy Thượng đế. Đó là hiểu lầm toàn bộ. Ông ấy không nói
về Thượng đế đâu. Khi ông ấy nói: Nhưng bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây
nhà! Và không bao giờ ông sẽ xây nhà của tôi... ông ấy không nói về Thượng đế
đâu, ông ấy đang nói về ham muốn đấy. Từ của ông ấy là tanha; tanha nghĩa là
ham muốn vô ý thức. Ông ấy nói, "Chính bởi vì việc ham muốn vô ý thức của
riêng tôi mà tôi đã tạo ra những kiếp sống này. Không ai khác chịu trách nhiệm
cả." Người đó nhận toàn thể trách nhiệm lên vai riêng của mình. Đây là việc
bắt đầu của con người tôn giáo thực sự; bạn không còn đổ trách nhiệm lên người
khác nữa - số phận, Thượng đế, thế này thế nọ.
Theo
nghĩa đó, Marx là người chưa chín chắn như bất kì cái gọi là thánh nhân nào, và
Freud cũng vậy - bởi vì họ tất cả đều đồng ý một điểm. Marx nói: Con người khổ
bởi vì cấu trúc kinh tế của xã hội. Trách nhiệm được đổ vào cấu trúc kinh tế của
xã hội. Hegel nói: Con người khổ vì lịch sử sai, quá khứ sai. Đây là đổ trách
nhiệm lên thượng đế có tên "Lịch sử." Và với Hegel, lịch sử gần như
là Thượng đế: ông ấy hay viết Lịch sử với chữ L hoa - với ông ấy lịch sử là
nhân tố tất định nhất. Và với Freud, vô thức chịu trách nhiệm. Bạn có thể làm
được gì nào? Bạn hoàn toàn bất lực.
Tất
cả những người này đều nói rằng bạn hoàn toàn bất lực, bạn không thể làm được
gì cả; bạn phải là cách bạn đang vậy, đây là cách duy nhất bạn có thể là.
Bạn
là nạn nhân của những lực vĩ đại, chống lại nó bạn không thể thắng được.
Phật
nói: Ông có thể chiến thắng, nhưng nhận lấy trách nhiệm lên vai riêng của ông
đi. Chính tâm trí ham muốn riêng của bạn đã tạo ra kiếp sống của bạn. Bánh xe
sinh tử này là sáng tạo của riêng bạn. Khi lần đầu tiên bạn nhận ra điều này, bạn
bị choáng váng, bị rung chuyển - rung chuyển tới tận gốc. Nhưng dần dần bạn bắt
đầu thấy tự do lớn lao trong nó. Bạn bắt đầu hân hoan rằng, "Nếu mình chịu
trách nhiệm, thế thì có khả năng cho mình thay đổi toàn thể hình mẫu."
Nhưng
bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây nhà! Và không bao giờ ông sẽ xây nhà cho
tôi. Ông ấy đang nói, "Bây giờ tôi thấy rằng nó là việc ham muốn, việc ham
muốn thường xuyên - về điều này, về điều nọ, về tiền, quyền, danh, Thượng đế,
thiên đường, niết bàn..." Nó là việc ham muốn, bao giờ cũng ham muốn,
phóng chiếu bản thân mình vào tương lai, đó là việc tạo ra bánh xe sinh tử của
bạn. Và bạn bị nghiền nát giữa hai tảng đá này: sinh và tử. Bạn phải tự do khỏi
sinh và tử.
Đó
là nghĩa của Phật về niết bàn: tự do khỏi sinh và tử, tự do khỏi ham muốn. Khoảnh
khắc bạn tự do khỏi mọi ham muốn... nhớ lấy, tôi nhắc lại, mọi ham muốn. Cái gọi
là ham muốn tâm linh, tôn giáo cũng được bao hàm trong nó, không cái gì bị loại
trừ. Tất cả các ham muốn đều phải bị vứt bỏ bởi vì mọi ham muốn đều đem tới thất
vọng, khổ, chán. Nếu bạn thành công nó đem lại chán; nếu bạn thất bại nó đem lại
thất vọng. Nếu bạn đuổi theo tiền chỉ có hai khả năng thôi: hoặc là bạn sẽ thất
bại hoặc bạn sẽ thành công. Nếu bạn thành công bạn sẽ bị chán với tiền.
Mọi
người giầu đều chán với tiền. Thực ra, đó là cách người giầu được biết tới có
thực là giầu không - nếu người đó chán với tiền, nếu người đó không biết phải
làm gì với nó. Nếu người đó vẫn khao khát thêm tiền người đó còn chưa đủ giầu
đâu. Nếu bạn thành công, bạn sẽ chán, bởi vì tiền có đó nhưng không có hoàn
thành với nó. Tất cả những ảo tưởng đó mà bạn đã mang theo lâu thế - những ảo
tưởng đó vì chúng mà bạn đã chịu khổ nhiều thế, đã tranh giành nhiều thế, đã mạo
hiểm nhiều thế... Cả đời bạn đã trôi qua mòn mỏi bởi vì những giấc mơ rằng khi
bạn có tiền bạn sẽ được hoàn thành. Nhưng khi bạn có nó bạn bỗng nhiên thấy ra
cái vô nghĩa của nó: tiền có đó nhưng bạn vẫn nghèo như xưa - thực ra còn nghèo
hơn, bởi vì, trong đối chiếu với tiền, bạn có thể thấy cái nghèo của mình rõ
ràng hơn.
Có
một câu chuyện của Leo Tolstoy:
Một
thợ may nghèo có thói quen này trong ba mươi năm cứ mua một vé số hàng tháng,
và trong ba mươi năm điều đó đã trở thành thường lệ. Mỗi tháng ông ấy sẽ mua một
vé số. Ông ấy chưa bao giờ trúng xổ số, ông ấy thậm chí đã thôi không nghĩ tới
việc mua nữa, nhưng điều đó đã trở thành một nghi lễ cổ: mọi tháng, vào tuần đầu
ông ấy sẽ mua một vé.
Nhưng
một hôm chuyện xảy ra: một chiếc Rolls Royce lớn đột nhiên dừng lại trước nhà
người thợ may nghèo. Một người bước ra với một chiếc túi lớn. Người thợ may
nghèo không thể nào tin nổi vào mắt mình, bởi vì chưa bao giờ có một chiếc
Rolls Royce nào đã dừng lại trước nhà người đó... và người này trông có vẻ giầu!
Và người này nói, "Hân hoan đi! Ông đã trúng xổ số - đây là một triệu
rúp."
Người
này vui mừng khôn xiết. Ông ta khoá cửa tiệm lại, ném khoá xuống giếng - vì bây
giờ ông ta chẳng bao giờ cần cái tiệm này nữa, ông ta sẽ chẳng bao giờ mở cái
tiệm này ra nữa. Một triệu rúp quá đủ cho mười kiếp sống!
Nhưng
trong vòng một năm một triệu rúp đi tong. Ông ta đã mua những chiếc xe lớn nhất,
nhà đẹp, gái mãi dâm đắt tiền nhất, thức ăn ngon nhất, quần áo đẹp nhất. Ông ta
sống như sa hoàng, hoàn toàn quên lãng sự kiện là tiền đang chảy khỏi tay mình.
Sau một năm tất cả đều bị kết thúc. Và không chỉ bị kết thúc, mà ông ta đã từng
là người mạnh khoẻ, trẻ trung, và trong một năm ông ta đã già đi ít nhất mười
tuổi và ông ta đã trở nên yếu và ốm - với tất cả những gái mãi dâm kia và rượu
và quá nhiều thức ăn phong phú. Ông ta ốm yếu, già lão, và ông ta phải nhảy xuống
giếng để tìm chiếc khoá!
Mọi
người phải kéo ông ta ra - ông ta gần như chết đuối - nhưng ông ta đã tìm thấy
chiếc khoá và ông ta mở lại cửa tiệm của mình. Cả năm đã giống như một cơn ác mộng
dài. Và ông ta nói, "Thế là đủ rồi! Mình sẽ không bao giờ hỏi về tiền nữa."
Nhưng
lại vẫn từ thói quen cũ ông ta bắt đầu mua vé số mọi tháng. Và sau một năm cùng
chiếc xe đó dừng lại... ông ta nói, "Trời đất! mình có phải trải qua mọi
điều đó lần nữa không nhỉ?"
Nếu
bạn có tiền, bạn sẽ biết nỗi khổ của nó; nếu bạn không có tiền, bạn biết nỗi khổ
của việc không có nó. Cách nào bạn cũng khổ cả. Ham muốn đem lại đau khổ -
thành công hay không thành công, ham muốn đem lại đau khổ. Nhưng bạn cứ ham muốn
trong hi vọng rằng nó có thể không là vậy với bạn.
Nhớ
lấy, cuộc sống không cho phép ngoại lệ nào: qui tắc của nó là hợp thức phổ dụng.
Bất kì cái gì đúng cho tôi đều đúng cho bạn, bất kì cái gì đúng cho Phật đều
đúng cho bạn. Chân lí là một! Bạn không thể hối lộ chân lí được, bạn không thể
thuyết phục chân lí khác đi chút ít cho bạn. Chân lí là trung lập; nó không là
kẻ kính trọng con người. Nó giống như lực hút: nó chẳng bận tâm liệu bạn giầu
hay bạn nghèo, nổi tiếng hay khét tiếng, được biết hay không được biết. Nếu bạn
cứ đi ngược lại luật hút bạn sẽ bị gẫy xương. Lực hút sẽ không cân nhắc rằng bạn
là tổng thống hay thủ tướng của đất nước đâu, hay là kẻ ăn xin; nó không phân
biệt. Và cùng điều đó cũng đúng về luật bên trong.
Phật
đã phát hiện ra một trong những luật nền tảng nhất: rằng ham muốn bao giờ cũng
gây thất vọng. Cho dù bạn thành công trong việc đạt tới mục đích của mình, bạn
sẽ bị thất vọng.
Chính
bởi vì điều này mà Mĩ bây giờ là nước thất vọng nhất trên thế giới. Họ đã thành
công: họ đã tạo ra sung túc, họ đã tạo ra giàu có - về điều nhân loại đã từng
mơ ước hàng thế kỉ - và họ bị thất vọng còn hơn người Ấn Độ. Và Ấn Độ là nước nghèo,
đói, vậy mà Ấn Độ không thất vọng như nước Mĩ đang vậy. Và lí do là, khi bạn
nghèo và đói bạn có thể hi vọng rằng ngày mai mọi sự sẽ tốt hơn, nhưng khi bạn
giầu và bạn có tất cả những thứ bạn có thể tưởng tượng được, bạn không thể hi vọng
được. Ngày mai không thể tốt hơn được - nó đã tốt hơn rồi! Thấy rằng bạn có mọi
thứ bạn cần, cái gì hơn nữa có thể xảy ra ngày mai? Nhiều nhất bạn sẽ có thêm
ít tiền - nhưng nếu số tiền này mà chẳng thể giúp gì, thêm chút nữa sẽ chẳng
giúp gì. Bạn có hai xe - bạn có thể có bốn xe; bạn có hai nhà - bạn có thể có bốn
nhà: thay đổi sẽ chỉ là về số lượng, và thay đổi số lượng không là thay đổi thực.
Người
nghèo nghĩ, "Sẽ có thay đổi về chất khi mình giầu." Người đó có thể
hi vọng, và qua hi vọng người đó có thể ham muốn.
Do
đó tôi nói đi nói lại rằng trước khi thế giới này có thể thực sự có tính tôn
giáo nó phải trở nên rất giầu có. Không phải là ngẫu nhiên mà Phật là con vua.
Tất cả hai mươi bốn tirthankaras của người Jaina đều là vua, và tất cả các hoá
thân của người Hindu - Rama và Krishna... đều là vua. Điều đó không thể là sự
trùng hợp ngẫu nhiên được. Tại sao chỉ có vua thôi? Sao người ăn xin và người
nghèo không trở thành phật? Lí do là đơn giản: người nghèo có thể vẫn còn hi vọng,
người giầu không có hi vọng.
Khi
hi vọng biến mất, ham muốn được thấy trong sự trần trụi của nó. Hi vọng cứ che
giấu ham muốn trong vỏ bọc đẹp.
Nhưng
bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây nhà! Và không bao giờ ông sẽ xây nhà cho
tôi. Phật nói... đây là phát biểu đầu tiên của ông ấy sau chứng ngộ. Khoảnh khắc
ông ấy trở nên chứng ngộ, buổi sáng ông ấy trở nên chứng ngộ, với ngôi sao cuối
cùng biến mất, đây là lời thốt ra đầu tiên của ông ấy, cực kì phong phú. Ông ấy
nhìn lên trời; mặt trời còn chưa mọc và ngôi sao cuối cùng vừa biến mất. Ông ấy
trống rỗng như bầu trời bên ngoài. Và đây là tuyên bố đầu tiên của ông ấy cho sự
tồn tại - không cho riêng mình ai. Ông ấy đơn giản nói, thốt ra - cứ dường như
nói cho bản thân mình hay nghĩ to: Nhưng bây giờ tôi thấy ông rồi, người xây
nhà! Và không bao giờ ông sẽ xây nhà cho tôi.
Ông
ấy nói, "Ta đã thấy bí mật của ham muốn rồi. Chính ham muốn đã tạo ra các
thân thể mới, tâm trí mới cho ta, cơ chế thân tâm mới cho ta - và ta đã thấy
nó. Bây giờ nó sẽ không thể tạo ra thêm rắc rối nào cho ta nữa."
Khoảnh
khắc bạn thấy ra nguyên nhân của rắc rối của bạn, rắc rối biến mất - và nguyên
nhân nữa. Việc thấy là biến đổi. Biết là được giải thoát.
Tôi
đã rút rui nhà, Chẻ thanh ngang ra
Và
ham muốn đã bị dập tắt. Và bây giờ tâm trí tôi tự do.
Rui
nhà là gì và ông ấy ngụ ý gì bởi thanh ngang nhà? Đây là những biểu dụ của ông ấy.
Với rui nhà ông ấy ngụ ý quá khứ và kí ức. Quá khứ cố gắng để còn dai dẳng, quá
khứ cứ nhớ mãi bản thân nó. Hôm qua bạn đã giận dữ, hôm kia bạn đã giận dữ,
ngày hôm trước của hôm kia bạn đã giận dữ, và cứ thế cứ thế mãi. Bây giờ giận dữ
đó đang chờ đợi bạn để có cớ bùng nổ. Quá khứ cứ nhớ mãi bản thân nó. Và nếu bạn
không thể tìm được cớ nào bạn sẽ giận dữ vô cớ. Bạn sẽ tạo ra cớ, bạn sẽ bịa ra
cớ - bạn sẽ phải làm thế, bởi vì giận dữ mà bạn đã từng trải qua mọi ngày đang
chờ đợi thời gian của nó. Nó cũng giống như thời gian uống trà, và thân thể bạn
bắt đầu đòi hỏi trà. Một chút ít chất chát là cần thiết... hay chút ít
nicotine.
Điều
này đang xảy ra cho Krishna Prem! Mới vài tuần trước Laxmi đã theo anh ta:
"Thôi hút thuốc!" anh ấy hút quá nhiều. Và cuối cùng anh ấy đã thôi
hút; với ý chí lớn lao anh ấy đã tự ép buộc mình và thôi hút thuốc. Kể từ đó
anh ấy đã không sung sức. Anh ấy trở nên ốm yếu, trong nhiều tuần anh ấy vẫn bị
ốm, yếu. Bây giờ anh ấy hết ốm rồi. Anh ấy phải uống nhiều thuốc và điều trị.
Bây giờ anh ấy đâm ra giận dữ với bất kì cái cớ nhỏ nhặt nào, hay chẳng cớ nào.
Mới
hôm nọ anh ấy hỏi tôi, "Thưa thầy kính yêu, tôi phải làm gì đây?"
Tôi
nói, "Hút đi! Và đừng nghe theo Laxmi nữa!"
Thói
quen cũ... bây giờ thân thể cần một lượng nicotine nào đó; nếu nó không có đó
thế thì khó chịu được tạo ra. Và chẳng có gì không tâm linh trong nicotine cả,
nhớ; nicotine cũng có tính tâm linh bất kì cái gì khác.
Nếu
bạn đã làm cái gì đó trong thời gian lâu bạn trở nên quen thuộc, và một khi bạn
trở nên quen thuộc với cái gì đó, nó buộc bạn phải làm nó lặp đi lặp lại. Phật
gọi điều đó là "rui mè của ham muốn ": quá khứ cố gắng duy trì bản
thân nó.
Ông
ấy nói: Tôi đã rút rui nhà. Tôi đã bị kết thúc với quá khứ rồi! Tôi đã bị ngắt
khỏi quá khứ rồi, tôi không còn liên tục với quá khứ của mình nữa. Tôi đã chẻ
thanh ngang ra. Với "thanh ngang" ông ấy ngụ ý tương lai. Ham muốn có
hai chiều: nó tới từ quá khứ và nó đi tới tương lai, nó không bao giờ ở lại trong
hiện tại. Hiện tại trở thành cái chết của ham muốn.
Do
đó mọi việc thiền đều không là gì ngoài nỗ lực đưa bạn về hiện tại. Khi bạn sống
trong khoảnh khắc hiện tại, không có quá khứ treo quanh bạn, không có phóng chiếu
tương lai, bạn được tự do với sống và chết, bạn được tự do với thân thể và tâm
trí. Bạn là tự do - đơn giản tự do - bạn là sự tự do.
Phật
nói: và đây là cách tôi đã dập tắt ham muốn.
Và
bây giờ tâm trí tôi tự do.
Không
có cá trong hồ.
Con
sếu cẳng dài đứng trong nước.
Một
biểu dụ hay, rất hình ảnh: Con sếu cẳng dài đứng trong nước. Chúng đứng rất
tĩnh lặng, rất im lặng, bất động, bởi vì nếu chúng chuyển động, gợn sóng được tạo
ra trong nước và những gợn sóng đó làm cho cá sợ. Con sếu đứng tuyệt đối im lặng,
như các nhà yoga, bất động, cứ dường như chúng không có đó. Nếu không có gợn
sóng trong nước, cá có thể tới gần sếu và chúng nó thể bắt cá.
Phật
nói: Bây giờ cách mạng đã xảy ra... Không có cá trong hồ. Với "cá"
ông ấy ngụ ý ham muốn: Tâm thức ta tự do khỏi ham muốn.
Con
sếu cẳng dài đứng trong nước. Nhưng bởi vì ta đang sống - ta sẽ không quay lại
thân thể nữa, nhưng thân thể này có đà riêng của nó, tâm trí này có đà riêng của
nó - nó sẽ phải kết thúc đà của nó. Cho nên thân thể có đó, tâm trí có đó, giống
như con sếu chân dài đứng trong nước, mặc dù không có cá thêm nữa.
Phật
đang nói: Ta ở đây trong thế giới này, nhưng không có ham muốn, cho nên thế giới
không ở trong ta. Ta sẽ không quay lại lần nữa bởi vì không có lí do để quay lại:
không có ham muốn để hoàn thành. Mọi ham muốn đều được biết là vô tích sự.
Thế
giới không là gì ngoài cơ hội để hoàn thành những ham muốn chưa được hoàn thành
của bạn. Bạn được đưa đi đưa lại vào thế giới này bởi luật phổ quát - aes
dhammo sanantano. Đây là luật phổ quát. Phật nói đi nói lại rằng nếu bạn ham muốn
bạn sẽ bị ném trở lại vào trong thế giới này. Bất kì cái gì bạn ham muốn bạn sẽ
trở thành nó; cái bạn trở thành tuỳ thuộc vào ham muốn của bạn. Nếu ham muốn của
bạn tới mức chúng có thể được hoàn thành chỉ trong kiếp sống của con chó, thế
thì bạn sẽ trở thành con chó. Nếu ham muốn của bạn tới mức chúng có thể được
hoàn thành chỉ trong kiếp sống của con voi, bạn sẽ trở thành con voi. Điều đó
tuỳ thuộc vào ham muốn của bạn: ham muốn của bạn tạo ra khuôn mẫu cho cơ chế
thân tâm của bạn. Chính việc ham muốn của chúng ta đã tạo ra chúng ta. Nếu bạn
là đàn ông, đó là ham muốn của bạn; nếu bạn là đàn bà, đó là ham muốn của bạn.
Bạn có thể đã quên mất về điều đó...
Tôi
đã từng thực nghiệm theo nhiều, nhiều cách. Tôi đã nhìn vào các kiếp sống quá
khứ của nhiều người, và lúc ban đầu tôi ngạc nhiên lắm. Điều ngạc nhiên nhất là
thế này - rằng nếu ai đó là đàn ông trong kiếp sống này, người đó đã là đàn bà
trong kiếp quá khứ của mình, và ngược lại: nếu ai đó là đàn bà trong kiếp này
cô ấy đã là đàn ông trong kiếp trước. Tôi đâm ra phân vân - sao thế nhỉ? Thế rồi
dần dần, dần dần sự việc trở nên rõ ràng với tôi là đàn ông nghĩ rằng đàn bà tận
hưởng nhiều hơn đàn ông, và còn nhiều hơn nữa bây giờ, theo nghiên cứu của các
Thầy và Johnson - bởi vì đàn bà có nhiều cực thích! Đàn ông có mỗi một cực
thích và thế rồi anh ta bị kết thúc trong ít nhất hai mươi bốn giờ, còn đàn bà
có thể có nhiều cực thích - nhiều cực thích trong vài giây.
Bây
giờ nhiều đàn ông phải cảm thấy rất thất vọng về việc là đàn ông; họ có thể
không nói ra trực tiếp thế, bởi vì bản ngã đàn ông của họ. Nhưng điều đó vẫn
đang xảy ra. Trong hai mươi nhăm năm nữa điều này sẽ xảy ra ngày một nhiều hơn,
là nhiều đàn ông sẽ quyết định trở thành đàn bà - bây giờ điều này có thể được
thực hiện một cách khoa học nữa - và nhiều đàn bà sẽ quyết định trở thành đàn
ông. Thực ra, họ đang cố gắng theo đủ mọi cách có thể được: họ cư xử như đàn
ông, họ muốn làm mọi thứ theo cách đàn ông đang làm nó; họ muốn cạnh tranh với
anh ta trong chính trị, ở bãi chợ - ở mọi nơi. Họ muốn mọi cơ hội, bởi vì đàn
ông đang được tận hưởng nhiều thế. Và đàn ông nghĩ đàn bà đang tận hưởng nhiều
thế: "Mình phải tranh đấu với toàn thế giới và đàn bà đơn giản nghỉ ở
nhà!"
Điều
này đã từng xảy ra trong quá khứ nữa, nhưng không theo cách khoa học - một cách
tự nhiên. Mọi người đều nghĩ người khác đang tận hưởng. Và ý niệm này về đa cực
thích! Và cũng ý niệm này đã tới với đàn bà rằng đàn bà có hai kiểu cực thích
và đàn ông chỉ có một kiểu cực thích. Đàn bà có thể có cực thích trong âm đạo
và cực thích âm vật. Đàn ông đáng thương thế! Và cực thích của đàn bà có tính
toàn bộ hơn - toàn thể thân thể cô ấy đều trở nên tham gia vào trong nó - cực
thích của đàn ông có tính cục bộ. Đàn ông đáng thương!
Một
nữ sinh xinh đẹp đã nhận nhiều cú điện thoại tục tĩu từ cùng một đàn ông trong
nhiều tháng. Cô ấy bắt đầu thích thú điều đó. Một đêm cô ấy cầm máy điện thoại
lên và đó lại là anh ta.
"Anh
đang định tới đó, ném em lên giường, lột hết quần áo em ra, dạng chân em ra. Và
ấn cái gì đó vào em mà em sẽ không bao giờ quên!"
"Tới
làm đi!" cô gái nói.
"Cái
gì?" một giọng nói ngạc nhiên trả lời.
"Em
nói nghiêm chỉnh đấy. Anh tuỳ thuộc vào em!"
Hai
mươi phút sau kẻ say mê gọi điện thoại đã ở trong căn hộ của cô ta. Trong năm
phút họ đã cởi hết quần áo và trong mười giây anh chàng này đã bị kết thúc hết.
Thêm sỉ nhục vào sự tổn thương, anh ta quay sang bên và ngủ thiếp đi trên cô
gái thất vọng đáng thương này.
Một
giờ sau anh ta thức dậy, mặc quần áo và đi hướng ra cửa.
"Em
sẽ nói một điều này cho anh," cô nữ sinh cắn cảu, "anh gọi điện thoại
ghê gớm lắm cơ mà!"
Đàn
ông bắt đầu cảm thấy rằng đàn bà tận hưởng nhiều hơn, và đàn bà cảm thấy cùng
điều đó. Nó bao giờ cũng là như vậy. Ngay cả vua cũng nghĩ rằng kẻ ăn xin hạnh
phúc hơn: không lo nghĩ, không lo âu; họ có thể ngủ ngon lành thế, say thế. Và
rất khó để cho vua ngủ được. Kẻ ăn xin không có thức ăn, nhưng họ có ngon miệng;
và vua có thức ăn nhưng không có ngon miệng. Kẻ ăn xin nghĩ rằng vua đang tận
hưởng các cung điện đẹp thế, thức ăn ngon thế, biết bao nhiêu đàn bà đẹp, và mọi
thứ mà người ta có thể ham muốn.
Nhưng
họ không biết rằng vua không thể tận hưởng được thức ăn - sự ngon miệng của vua
đã biến mất từ lâu trước khi thức ăn xuất hiện. Vâng, họ có cung điện đá cẩm thạch
đấy, nhưng họ không thể ngủ được. Cuộc sống của họ là cơn ác mộng, lo sợ, khổ,
lo âu thường xuyên. Vua nghĩ rằng kẻ ăn xin ở tình thế tốt hơn nhiều: chẳng phải
lo nghĩ gì. Không ai có thể ắn cắp được cái gì từ họ, không ai có thể tấn công
họ. Họ không cần lính gác, họ không cần bất kì sự bảo vệ nào; họ có thể ngủ
trên đường.
Mọi
người đều ghen tị với mọi người khác, và đó là cách sự việc cứ thay đổi. Nếu bạn
là đàn ông, bạn phải đã là đàn bà trong kiếp sống quá khứ của mình; nếu bạn là
đàn bà, bạn phải đã là đàn ông. Bạn bắt đầu ham muốn là người kia và thế rồi
ham muốn này đã mang tới một cơ chế mới cho bạn.
Phật
nói chính ham muốn, chứ không phải Thượng đế, là cái phải được nhìn vào, cái phải
được xem xét, cái phải được quan sát.
Thật
buồn cho người khi còn trẻ sống phóng túng và hoang phí của cải của mình.
Và
Phật nói: thận trọng! Thời gian trôi qua nhanh lắm, cuộc sống đang tuột khỏi
ngón tay ông; chẳng mấy chốc nó sẽ mất đi. Trước khi nó mất đi, làm cái gì đó để
gạt bỏ ham muốn.
Thật
buồn cho người khi còn trẻ sống phóng túng và hoang phí của cải của mình... Của
cải là gì đối với Phật? - là cơ hội này, cơ hội lớn lao này để nhận biết về ham
muốn và cái vô tích sự của nó, cơ hội lớn lao này để gạt bỏ ham muốn. Đây là của
cải lớn lao đấy!
Và
thật buồn là người đã chi dùng tuổi thanh niên của mình một cách lỏng lẻo, vô ý
thức và hoang phí của cải của mình. Nói gì về người già? Ngay trong tuổi già mọi
người vẫn lặp lại cùng trò chơi ngu xuẩn.
Ông
già chín mươi tuổi Parker đi tới nhà thổ và trình diễn tuyệt vời trên giường tới
mức gái mãi dâm nói, "Ông già ơi, nếu ông có thể làm việc đó lần nữa, thì
đó là chiêu đãi cho ông đấy!"
"Được
rồi," Parker nói, "nhưng nếu em không bận tâm, anh muốn có giấc ngủ
mười lăm phút."
"Được
ạ."
"Và
khi anh ngủ anh muốn em cầm lục lạc của anh!"
Cô
ấy đồng ý. Khi ông ta thức dậy, Parker cho một trình diễn ngoạn mục khác. Thế
là cô gái đó nói, "Này, nếu anh có thể làm nó, em sẽ cho anh một lần nữa
không mất tiền!"
Ông
ta đồng ý. "Được rồi, nhưng anh phải lấy giấc ngủ mười lăm phút nữa và
trong khi anh ngủ, em phải nâng đầu anh!"
Parker
thức dậy sau đó và lần nữa trình diễn như một thanh niên. "Này, Bố
già," gái mãi dâm nói, "em có thể hiểu được tại sao anh muốn ngủ mười
lăm phút, nhưng tại sao anh lại muốn em giữ lục lạc của anh?"
"Thế
này," ông già nói, "chỗ trước mà anh tới, ai đó đã đánh cắp ví của
anh!"
Một
ông già chín mươi tuổi... nhưng vẫn cùng cái ngu xuẩn đó! Thanh niên có thể được
tha thứ - mặc dầu Phật không sẵn sàng tha thứ cho họ - nhưng họ có thể được tha
thứ; họ không có mấy kinh nghiệm về cuộc sống. Nhưng ngay cả người già, ngay cả
trên giường chết của họ, vào khoảnh khắc chết, họ vẫn nghĩ về những thứ ngu xuẩn
và những ham muốn. Ai đó nghĩ về tiền, ai đó nghĩ về dục, ai đó nghĩ về việc trở
nên nổi tiếng - ngay cả trên giường chết của họ! Họ hoàn toàn không nhận biết rằng
họ đã lãng phí của cải.
Thật
buồn cho người khi còn trẻ sống phóng túng và hoang phí của cải của mình... Và
gần như mọi người trên thế giới ngày nay đều sống một cách phóng túng. Với
"sống phóng túng" Phật ngụ ý rằng sống vô ý thức, chúng ta cứ làm phí
hoài các cơ hội mà có thể trở thành những khoảnh khắc lớn của hiểu biết. Tôi
không nói trốn chạy khỏi thế giới; tôi không nói trốn chạy khỏi bất kì đâu -
nhưng chắc chắn bạn phải ở đó với nhiều nhận biết hơn.
Khi
con gà trống mới mua bị chết chỉ sau ba tuần làm việc, anh nông dân Foster quyết
định rằng con thay thế nó phải sống lâu hơn nhiều. Thế là trước khi để con gà
trống mới vào việc, Foster cho nó uống thuốc liều cao với vitamins và thuốc
kích thích. Ngay khi con gà được thả ra, nó nhảy xổ vào toán gà mái và phục vụ
lần lượt từng con một. Thế rồi nó bay vào toán bên cạnh và tiến hành làm cùng
việc đó cho lũ ngỗng.
Anh
nông dân Foster trở về nhà, lắc đầu và lẩm bẩm, "Nó sẽ chẳng thể nào sống
hết ngày mất."
Đến
lúc mặt trời lặn, Foster đi qua sân, và con gà trống nằm đó, chân chổng lên trời,
nằm thẳng trên lưng, với hai con chim ó đói đang bay lượn vòng tròn chậm rãi
phía trên.
"Đồ
chết tiệt!" Foster lầm bầm. "Bây giờ mình phải mua cho mình con gà trống
mới rồi!"
Con
gà trống mở một mắt ra, nháy mắt, và trỏ vào lũ ó gần đó, nói, "Suỵt!"
Tỉnh
táo chút ít hơn con gà trống đó đi!
Con
người là con người chỉ khi người đó trở nên nhận biết về điều mình làm. Bằng
không vài người là con gà trống và vài người là con bò đực và vài người là con
ngựa - trong hình hài con người. Vài người điên vì tiền, vài người điên vì dục,
vài người đói quyền lực. Đây là tất cả những người ốm yếu và họ đã khổ trong
nhiều kiếp sống, nhưng điều đó đã trở thành hình mẫu lắng đọng với họ tới mức họ
cứ đi trong vòng tròn.
Thật
buồn cung đã gãy,
Và
người đó thở dài buồn bã
Sau
khi tất cả đã nảy sinh và đã mất đi.
Ngày
đó không xa xôi gì mấy khi bạn sẽ thấy rằng bạn chỉ là chiếc cung gãy. Ngày đó
không xa xôi gì mấy khi bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, và thế rồi bạn sẽ thở dài
và khóc lóc và than vãn bên trong bản thân mình, bởi vì bạn sẽ biết rằng bất kì
điều gì bạn đã từng làm tất cả đều chỉ là mơ, viết lên nước. Bạn đã sống với những
cái bóng; bạn đã không thu được bản chất gì trong cuộc sống. Bạn đã phí hoài cơ
hội lớn mà trong đó bạn có thể đã trở thành vị phật.
Chừng
nào bạn còn chưa trở thành vị Phật hay một Krishna hay một Christ, nhớ rằng bạn
đang làm phí hoài kho báu lớn lao được sự tồn tại ban tặng cho bạn. Bạn đã
không kiếm được nó, bạn không xứng đáng với nó. Nó là món quà thuần khiết, món
quà của tình yêu. Xin đừng làm phí hoài nó...
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment