Yoga:
Alpha và Omega (Tập 5)
Bài
nói về Kinh Yoga của Patanjali
Chương
3. Nhận biết, không tri thức
25.
Phân tách người thấy và cái được thấy, điều được mang tới bằng việc xua tan dốt
nát là phương thuốc đem tới giải thoát.
26.
Thực hành kiên định khu biệt giữa cái thực và cái không thực đem tới việc xua
tan dốt nát.
27.
Giai đoạn cao nhất của chứng ngộ được đạt tới trong bẩy bước.
Trạng
thái dốt nát là nguyên nhân của mọi ảo tưởng, của mọi cái hão huyền, của mọi
hình tướng, nhưng biết nhiều không phải là trạng thái của tri thức. Dốt nát là
nguyên nhân, nhưng tri thức không phải là phương thuốc - tri thức theo nghĩa
thông thái. Bạn có thể biết ngày càng nhiều hơn và nhiều hơn, nhưng bạn vẫn còn
như cũ. Tri thức trở thành thói nghiện. Bạn cứ thêm vào nó. Nhưng bản thể mà bạn
thêm vào nó vẫn còn như cũ. Bạn biết nhiều hơn, nhưng bạn không nhiều hơn.
Và căn
nguyên của dốt nát có thể bị làm tan biến chỉ khi bạn là nhiều hơn, khi bản thể
bạn mạnh hơn, khi bản thể bạn nhiều quyền lực hơn, khi bản thể bạn đã thức tỉnh.
Căn nguyên của mọi khổ là dốt, nhưng tri thức không phải là phương thuốc - thức
tỉnh mới là phương thuốc.
Nếu bạn
không hiểu phân biệt tinh tế này, đầu tiên, bạn bị lạc trong dốt nát, và thế rồi
bạn sẽ bị lạc - và lạc nhiều hơn thế - trong tri thức. Trong Upanishads có một
trong những phát biểu triệt để nhất đã từng được thốt ra. Phát biểu này là ở chỗ
người dốt bị lạc, nhưng trong tri thức họ bị lạc theo cách sâu hơn. Dốt nát dẫn
sai đường, tri thức dẫn sai đường nhiều hơn.
Dốt nát
không phải là thiếu vắng tri thức. Nếu nó là thiếu vắng tri thức thế thì mọi sự
chắc đã rất, rất dễ dàng - và rẻ. Bạn có thể vay mượn tri thức; bạn không thể
vay mượn bản thể. Bạn thậm chí có thể đánh cắp tri thức; bạn không thể đánh cắp
bản thể. Bạn phải trưởng thành trong nó. Nhớ điều này như một tiêu chuẩn: rằng
chừng nào bạn còn chưa trưởng thành trong cái gì đó, nó không bao giờ là của bạn.
Khi bạn trưởng thành, chỉ thế thì cái gì đó mới thuộc về bạn. Bạn có thể sở hữu
cái gì đó, nhưng đừng bị lạc lối bởi sở hữu. Vật sở hữu vẫn còn tách rời - nó
có thể bị lấy đi khỏi bạn. Chỉ bản thể bạn là không thể bị lấy đi khỏi bạn. Cho
nên chừng nào việc biết còn chưa xảy ra trong bản thể bạn, dốt nát không thể bị
tan biến.
Dốt nát
không phải là thiếu vắng tri thức; dốt nát là thiếu vắng nhận biết. Dốt nát là
một loại buồn ngủ, một loại thiu thiu ngủ, một loại thôi miên; dường như bạn bước
đi trong giấc ngủ, làm mọi thứ trong ngủ say. Bạn không nhận biết điều bạn đang
làm. Bạn không phải là ánh sáng; toàn thể bản thể bạn là tối. Bạn có thể biết về
ánh sáng, nhưng tri thức đó về ánh sáng sẽ không bao giờ trở thành ánh sáng.
Ngược lại, nó sẽ trở thành rào cản hướng tới ánh sáng, bởi vì khi bạn biết quá
nhiều về ánh sáng bạn quên mất rằng ánh sáng đã không xảy ra cho bạn. Bạn bị lừa
bởi tri thức riêng của bạn.
Cứ dường
như là bạn đã sống trong xà lim tối. Bạn đã nghe nói về ánh sáng nhưng bạn đã
không nhìn thấy nó. Và làm sao bạn có thể nghe được về ánh sáng? Nó chỉ có thể
được nhìn thấy. Tai không phải là phương tiện để biết ánh sáng: mắt mới là
phương tiện. Và bạn đã nghe nói về ánh sáng. Và nghe lặp đi lặp lại về ánh sáng
bạn đã bắt đầu cảm thấy rằng bạn biết ánh sáng. Bạn biết về; nhưng biết về
không phải là biết. Bạn đã nghe nói thôi. Làm sao bạn có thể nghe được ánh
sáng? Sường như là ai đó nói rằng người đó đã thấy âm nhạc. Điều đó sẽ là ngớ
ngẩn.
Nghe về
ánh sáng, tâm trí trở nên ngày một tham hơn. Bạn tư vấn kinh sách. Bạn đi và hỏi
người già, trí huệ. Bạn thậm chí có thể bắt gặp ai đó, người đã thấy, nhưng khoảnh
khắc người đó nói cái gì đó về điều đó, với bạn nó trở thành việc nghe nói. Ở Ấn
Độ kinh sách cổ nhất được biết tới là shruti, cái đã được nghe nói. Điều đó là
hay. Điều đó thực sự hay. Làm sao chân lí có thể được nghe thấy? Và mọi kinh
sách cổ đều được gọi là shrutis, và smritis. Shruti nghĩa là "điều nghe
nói," và smriti nghĩa là "điều được ghi nhớ." Bạn đã nghe và bạn
ghi nhớ. Bạn đã ghi nhớ nó, nhưng làm sao bạn có thể biết chân lí bằng việc
nghe? Bạn phải cảm nó. Thực ra bạn phải sống nó.
Người sống
trong hang động, trong bóng tối, có thể thu thập nhiều sự kiện về ánh sáng. Người
đó gần như có thể trở thành bác học lớn. Bạn có thể tư vấn người đó và bạn có
thể tin cậy vào người đó. Người đó sẽ nói mọi thứ mà đã từng được nói về ánh
sáng, nhưng người đó sẽ sống tất cả như nhau trong bóng tối. Và người đó không
thể giúp được bạn hướng tới ánh sáng; bản thân người đó mù.
Jesus
nói đi nói lại, "Người mù dẫn người mù.' Kabir nói, "Nếu ông khổ, trở
nên tỉnh táo đi; ông phải đã bị người mù dẫn đi. Nếu người mù dẫn người mù, họ
rơi xuống giếng," Kabir nói. Và các bạn tất cả đều ở trong giếng của khổ;
các bạn phải đã nghe nói quá nhiều về chân lí; bạn phải đã nghe quá nhiều về
Thượng đế. Hàng nghìn bác học liên tục thuyết giảng Thượng đế - nhà thờ, đền
chùa, học giả - liên tục nói "về". Thượng đế không phải là việc nói.
Đó là kinh nghiệm.
Dốt nát
không thể bị làm tan biến bởi tri thức. Nó có thể bị làm tan biến chỉ bởi nhận
biết. Tri thức bạn có thể cứ thu thập trong mơ; nhưng nó là một phần của mơ, và
mơ là một phần của giấc ngủ của bạn. Ai đó phải lay bạn. Ai đó phải gây choáng
cho bạn. Ai đó phải đem bạn ra khỏi giấc ngủ của bạn; bằng không bạn có thể cứ
ngủ mãi. Ngủ là rượu. Dốt nát là rượu; nó là ma tuý. Bạn phải được kéo ra khỏi
nó.
Tôi sẽ
kể cho bạn một giai thoại tôi bao giờ cũng thích. Nó là về Siddha Naropa, đệ tử
của Tilopa. Chuyện xảy ra trước khi Naropa tìm được thầy mình, Tilopa. Chuyện xảy
ra trước khi bản thân ông ấy trở nên chứng ngộ. Và nó là điều phải có cho mọi
người tìm kiếm; nó phải xảy ra cho mọi người. Cho nên dù nó xảy ra cho Naropa
hay không thì cũng không phải là vấn đề - nó là điều phải có trên cuộc hành
trình. Chừng nào nó còn chưa xảy ra, chứng ngộ là không thể được. Cho nên về mặt
lịch sử tôi không biết liệu nó đã xảy ra hay không. Về mặt tâm lí tôi chắc chắn,
tuyệt đối chắc chắn, nó đã xảy ra bởi vì không ai có thể đi xa thêm vào cõi bên
kia mà không có nó.
Naropa
là một học giả lớn, một bác học lớn. Có chuyện rằng ông ấy là phó hiệu trưởng
vĩ đại của một đại học lớn - mười nghìn đệ tử của riêng ông ấy. Một hôm ông ấy
đang ngồi với các đệ tử vây quanh. Khắp xung quanh ông ấy là hàng nghìn kinh
sách - cổ đại, rất cổ đại, hiếm hoi. Đột nhiên ông ấy rơi vào giấc ngủ, chắc phải
đã bị mệt mỏi, và ông ấy có linh ảnh. Tôi gọi nó là linh ảnh, không phải mơ, vì
nó không phải là mơ thường. Nó có ý nghĩa thế, gọi nó là mơ sẽ không chính xác;
nó là linh ảnh.
Ông ấy
thấy một bà rất, rất già, xấu, kinh khủng - như phù thuỷ. Cái xấu của bà ấy nhiều
tới mức ông ấy bắt đầu run rẩy trong giấc ngủ của mình. Nó buồn nôn thế ông ấy
muốn trốn đi - nhưng trốn đi đâu, đi đâu đây? Ông ấy bị bắt, cứ dường như bị
thôi miên bởi bà phù thuỷ già. Thân thể bà gớm ghiếc buồn nôn, nhưng mắt bà ấy
như nam châm. Bà ấy hỏi, "Naropa, ông đang làm gì?" Và ông ấy nói,
"Tôi đang học." "Ông học gì?" bà già hỏi.
Ông ấy
nói, "Triết học, tôn giáo, nhận thức học, ngôn ngữ, văn phạm, logic."
Bà già
lại hỏi, "Ông có hiểu chúng không?" Naropa nói, "Ô... có chứ,
tôi hiểu chúng."
Bà ấy lại
hỏi, "Ông hiểu lời, hay nghĩa?"
Điều
này được hỏi lần đầu tiên. Cả nghìn câu hỏi đã được mọi người hỏi Naropa trong
đời ông ấy. Ông ấy là thầy giáo lớn - hàng nghìn học sinh bao giờ cũng hỏi, chất
vấn - nhưng không ai đã hỏi điều này: ông hiểu lời, hay nghĩa. Và mắt bà này
xuyên thấu tới mức không thể nói dối được - bà ấy sẽ tìm ra. Trước mắt bà ấy
Naropa cảm thấy hoàn toàn trần trụi, khoả thân, trong suốt. Đôi mắt đó xuyên
vào rất sâu trong bản thể ông ấy, và không thể nào nói dối được. Với bất kì ai
khác ông ấy chắc đã nói, "Tất nhiên, tôi hiểu nghĩa chứ," nhưng với
bà này, bà già trông kinh khủng này, ông ấy không thể nói dối được; ông ấy phải
nói ra chân lí. Ông ấy nói, "Vâng, tôi hiểu lời."
Bà già
rất hạnh phúc. Bà ấy bắt đầu nhảy múa và cười.
Tưởng rằng
bà ấy đã trở nên hạnh phúc thế... Và bởi vì hạnh phúc của bà ấy mà cái xấu của
bà ấy đã được biến đổi; bà ấy không còn xấu thế nữa; cái đẹp tinh tế thoát ra từ
bản thể bà ấy. Tưởng là "Mình đã làm cho bà ấy hạnh phúc thế. Tại sao
không làm cho bà ấy hạnh phúc thêm chút ít?" ông ấy nói, "Và vâng,
tôi hiểu cả nghĩa nữa."
Bà già
dừng cười. Bà ấy dừng múa. Bà ấy bắt đầu kêu khóc, và mọi cái xấu xí quay lại -
cả nghìn lần hơn.
Naropa
nói, "Sao thế? Sao bà kêu khóc? Và sao bà đã cười và nhảy múa lúc trước?"
Bà già
nói, "Ta đã múa và cười và đã hạnh phúc vì một học giả lớn như ông đã
không nói dối. Nhưng bây giờ ta kêu khóc vì ông đã nói dối ta. Ta biết - và ông
biết - rằng ông không hiểu nghĩa."
Linh ảnh
này biến mất và Naropa được biến đổi. Ông ấy trốn khỏi đại học. Ông ấy không
bao giờ chạm tới kinh sách trong đời mình nữa. Ông ấy trở thành dốt nát hoàn
toàn: ông ấy đã hiểu rằng chỉ bằng việc hiểu lời, bạn đang lừa ai; và chỉ bằng
việc hiểu lời bạn đã trở thành phù thuỷ già xấu xí.
Tri thức
là xấu. Và nếu bạn lại gần học giả bạn sẽ thấy họ bốc mùi - mùi tri thức - chết.
Con người
của trí huệ, con người của hiểu biết, có sự tươi tắn về người đó, cuộc sống
ngát hương - khác toàn bộ với bác học, con người của tri thức. Người hiểu nghĩa
trở thành đẹp; người chỉ hiểu lời trở thành xấu. Và người đàn bà này không phải
là ai ở bên ngoài: nó chỉ là phóng chiếu của phần bên trong. Nó là bản thể
riêng của Naropa, qua tri thức đã trở thành xấu. Chỉ hiểu biết ngần này rằng
"Tôi không hiểu nghĩa," và cái xấu sẽ được biến đổi ngay lập tức
thành hiện tượng đẹp.
Naropa
đi trong tìm kiếm, vì bây giờ kinh sách không ích gì. Bây giờ thầy sống được cần
tới. Thế rồi sau những cuộc hành trình dài ông ấy bắt gặp Tilopa. Tilopa cũng
trong việc tìm kiếm người này, bởi vì khi bạn có cái gì đó, bạn muốn chia sẻ; từ
bi nảy sinh.
Thuật
ngữ Phật giáo cho từ bi là karuna. Từ tiếng Anh không mang đích xác cùng nghĩa
- nó không thể mang được. Từ karuna là rất, rất có nghĩa. Nó tới từ cùng gốc tiếng
Phạn như từ kriya. Kriya nghĩa là hành động. Kriya và karuna - kriya nghĩa là
hành động, karuna nghĩa là từ bi - chúng cả hai tới từ cùng một gốc kra. Thuật
ngữ Phật giáo karuna nghĩa là "từ bi trong hành động." Và đó là khác
biệt giữa thông cảm và từ bi; khi bạn trong thông cảm không có nhu cầu về hành
động - bạn đơn giản biểu lộ thông cảm của bạn và sự việc được chấm dứt. Từ bi
là hoạt động - bạn làm cái gì đó. Khi bạn thực sự trong từ bi bạn sẽ phải làm
cái gì đó. Làm sao bạn có thể chỉ thông cảm thôi? Thông cảm sẽ có vẻ nhợt nhạt
thế, lạnh lẽo thế. từ bi là ấm áp. Từ bi nghĩa là nó phải có tính hoạt động.
Khi một
người biết, từ bi nảy sinh. Tilopa đã biết. Ông ấy đã đi tới đối diện với điều
tối thượng: và bây giờ từ bi đã nảy sinh. Và ông ấy bắt đầu tìm và kiếm ai đó
người sẵn sàng nhận... bởi vì bạn không thể ném việc biết này về điều tối thượng
trước những người sẽ không hiểu. Trái tim cảm nhận, trái tim nữ tính được cần tới.
Đệ tử phải mang nữ tính bởi vì thầy sẽ rót vào, và đệ tử chỉ cho phép.
Họ đã gặp
nhau và Tilopa nói, "Naropa, bây giờ ta sẽ nói mọi thứ mà ta đã từng chờ đợi
để nói. Ta sẽ nói mọi thứ bởi vì ông, Naropa. Ông đã tới; bây giờ ta có thể làm
nhẹ gánh cho bản thân ta."
Linh ảnh
này của Naropa là rất có ý nghĩa. Linh ảnh này là điều phải có. Chừng nào bạn
còn chưa cảm thấy rằng tri thức là vô dụng bạn sẽ không bao giờ tìm kiếm trí huệ.
Bạn sẽ mang đồng tiền giả cứ tưởng rằng đây là kho báu thực. Bạn phải trở nên
nhận biết rằng tri thức là đồng tiền giả - nó không phải là việc biết, nó không
phải là việc hiểu. Nhiều nhất nó là có tính trí tuệ - lời đã được hiểu nhưng
nghĩa bị mất. Một khi bạn hiểu điều này bạn sẽ ném đi mọi tri thức của bạn và bạn
sẽ trốn đi để tìm ai đó biết, bởi vì chỉ với ai đó biết - từ tim qua tim, bản
thể qua bản thể, việc truyền trao xảy ra. Nhưng nếu đệ tử đã là con người của
tri thức, việc truyền trao là không thể được, bởi vì tri thức sẽ trở thành bức
tường.
Tôi có
thể thấy bức tường tinh tế bao giờ cũng bao quanh bạn. Bất kì khi nào bạn tới
tôi, tôi đều xem liệu tôi có thể tiếp cận được bạn hay không, liệu bạn có là tiếp
cận tới được hay không. Nếu tôi thấy bức tường tri thức rất dầy điều đó dường
như là gần như không thể nào tiếp cận tới bạn được; tôi sẽ phải đợi. Nếu tôi có
thể tìm thấy cho dù một vết nứt nhỏ, tôi đi vào từ đó. Nhưng mọi người sợ hãi,
đầy những sợ - họ thậm chí không để một vết nứt nào; họ làm thành bức tường vững
chắc. Họ làm ra thành trì tri thức quanh họ, các khái niệm - những lời trừu tượng.
Vô tích sự! Chỉ tiếng ồn! Thực ra là điều phiền toái, nhưng bạn tin vào chúng.
Cho nên
đây là điều đầu tiên cần được hiểu: tri thức không phải là tri thức. Và chỉ tri
thức đó cái không phải là tri thức mà là trí huệ, việc hiểu, việc biết, mới có
thể chặt tận gốc dốt nát.
Nhớ từ
"nhận biết." Cũng như buổi sáng bạn dần dần trở nên tỉnh táo và bạn
ra khỏi giấc ngủ và việc ngái ngủ rơi rụng xuống, biến mất; cùng điều đó lại xảy
ra: bạn ra khỏi giấc ngủ, dần dần mắt bạn mở ra, bạn bắt đầu nhìn, tim bạn trở
thành sẵn có, bản thể bạn mở ra; và ngay lập tức, bạn không còn là cùng người
như bạn đã vậy trong giấc ngủ. Bạn đã bao giờ quan sát chưa, vào buổi sáng, khi
thức dậy, bạn trở thành một người khác toàn bộ - bạn không là cùng người đã ngủ?
Bạn có quan sát không, trong giấc ngủ bạn trở thành một người khác toàn bộ -
trong giấc ngủ bạn làm những điều bạn thậm chí không thể tưởng tượng được trong
khi bạn thức - trong giấc ngủ bạn tin vào mọi thứ mà bạn không thể tin được khi
bạn thức? Trong giấc ngủ mọi loại ngớ ngẩn đều được tin. Trong khi bạn thức bạn
cười vào cái ngu xuẩn riêng của bạn, cười vào giấc mơ riêng của bạn.
Cùng điều
đó xảy ra khi bạn chung cuộc thức tỉnh. Thế thì, toàn thế giới mà bạn đã từng sống
cho tới khoảnh khắc đó trở thành một phần của mơ, giấc mơ lớn. Đó là lí do tại
sao người Hindus cứ nói thế giới là maya: chất liệu làm ra nó là chất liệu mơ;
nó không phải là thực. Thức tỉnh đi! Và bạn sẽ thấy mọi cái hão huyền đó bao
quanh bạn đã biến mất. Và một cách nhìn khác toàn bộ về sự tồn tại trở thành sẵn
có - đó là tự do. Tự do là tự do khỏi ảo tưởng. Tự do là tự do khỏi giấc ngủ. Tự
do là tự do khỏi mọi điều không có và dường như là có đó.
Đi tới
cái thực là đi về nhà; lang thang trong cái hão huyền là ở trong thế giới. Bây
giờ, cố hiểu lời kinh của Patanjali.
Phân
tách người thấy và cái được thấy, điều được mang tới bằng việc xua tan dốt nát
là phương thuốc đem tới giải thoát.
Bắt đầu
từ đâu?... bởi vì Patanjali bao giờ cũng quan tâm tới chỗ bắt đầu. Nếu bắt đầu
không rõ ràng chúng ta có thể cứ nói về giải thoát là gì, nhưng điều đó sẽ vẫn
còn là việc nói. Bắt đầu phải tuyệt đối rõ ràng - mọi bước đều rõ ràng tới mức
bạn có thể đi từ nơi bạn đang ở. Nếu bạn nghe Lão Tử, Lão Tử nói từ đỉnh, đỉnh
cao nhất có thể cho tâm thức con người; nếu bạn hỏi Tilopa, ông ấy trả lời từ
chỗ ông ấy ở. Nếu bạn hỏi Patanjali, ông ấy nói từ chỗ bạn đang ở. Ông ấy không
nói gì về bản thân ông ấy; ông ấy đơn giản nói từ chỗ bạn đang ở, chỗ bắt đầu.
Ông ấy thực dụng hơn; Lão Tử đúng hơn. Patanjali thực dụng hơn.
Hôm nọ
ai đó đã hỏi tại sao tôi không thể tiếp tục nói về Lão Tử. Bởi vì bạn thôi. Nếu
tôi một mình điều đó sẽ là tốt, hoàn hảo; nhưng bạn cũng có đó, và tôi không thể
quên bạn được. Khi tôi nói về Lão Tử tôi phải bỏ bạn lại xa đằng sau. Thế thì
ngay lập tức tôi bắt đầu nói về Patanjali, hay ai đó, người nói về bạn và những
bước đầu tiên của bạn. Có khác biệt bao la.
Lão Tử
bạn có thể thích thú nhưng bạn không thể thực hành được, bởi vì ông ấy không
nói gì về thực hành. Ông ấy đã đạt tới và ông ấy nói về việc đạt tới của ông ấy
- từ cách nhìn đó. Mọi sự là khác toàn bộ. Bạn có thể bị thôi miên bởi cách
nhìn đó, cách nhìn đó có thể có hấp dẫn lớn với bạn, nhưng nó vẫn còn là thơ
ca. Nó sẽ vẫn còn là hư cấu: nó sẽ không trở thành kinh nghiệm; nó sẽ không trở
thành thực hành. Bạn sẽ không có khả năng tìm được cách từ đó đi qua Lão Tử. Mọi
thứ đều đúng hoàn hảo, nhưng đi từ đâu? Khoảnh khắc bạn trở nên nhận biết về bản
thân bạn, Lão Tử ở đâu đó xa xăm, cách xa thế...
Patanjali
ở ngay bên cạnh bạn. Bạn có thể đi cùng ông ấy, tay trong tay. Ông ấy nói về chỗ
bắt đầu.
"Phân
tách người thấy và cái được thấy..." Cho nên bước đầu tiên là nhớ, lưu
tâm, rằng bạn là tách rời với cái được thấy: bất kì cái gì bạn nhìn, bạn đều là
người thấy. Cây có đó, xanh thế và đẹp thế, nở hoa - nhưng cây là đối thể; bạn
là chủ thể. Tách rời với chúng. Biết cho rõ rằng cây có đó và bạn ở đây; cây ở
ngoài, bạn ở trong; cây là cái được thấy và bạn là người thấy. Điều đó là khó
nhớ vì cây đẹp thế và hoa quyến rũ thế, chúng thôi miên bạn. Bạn muốn bị mất
hút. Bạn muốn quên bản thân bạn.
Thực ra
bạn bao giờ cũng trong tìm kiếm quên lãng bản thân bạn, cố thoát khỏi bản thân
bạn. Bạn chán ngán thế với bản thân bạn... Không ai muốn còn lại với bản thân
mình. Bạn tạo ra cả nghìn lẻ một con đường chỉ để thoát khỏi bản thân bạn. Khi
bạn nói, "Cây đẹp," bạn đã trốn thoát rồi; bạn đã quên bản thân bạn.
Khi bạn thấy người đàn bà đẹp đi ngang qua, bạn đã quên bản thân bạn. Người thấy
bị mất hút trong cái được thấy.
Đừng
đánh mất người thấy trong cái được thấy. Nhiều lần nó sẽ bị mất hút - giành lại
nó đi. Giành lại nó lặp đi lặp lại. Dần dần bạn sẽ trở thành vững chắc. Dần dần
bạn sẽ có sức mạnh. Bất kì cái gì đi qua, bất kì cái dù là cái gì - cho dù Thượng
đế có đi qua - Patanjali nói, "nhớ rằng ông là người thấy và ngài là cái
được thấy." Đừng quên phân biệt này, bởi vì chỉ với phân biệt này cái nhìn
của bạn sẽ trở thành rõ ràng, tâm thức của bạn sẽ tập trung, nhận biết của bạn
trở nên được vững chắc, bản thể bạn sẽ trở nên được bắt rễ và định tâm.
Cứ đi lặp
đi lặp lại, ngã đi ngã lại vào nhớ cái ta. Nhớ lấy, nhớ cái ta không phải là nhớ
bản ngã. Nó không phải là nhớ rằng "tôi đây," không. Nó là nhớ rằng
bên trong là người thấy và bên ngoài là cái được thấy. Vấn đề không phải là về
"tôi"; vấn đề là tâm thức và đối thể của tâm thức. "Phân tách
người thấy và cái được thấy, điều được mang tới bằng việc xua tan dốt nát là
phương thuốc đem tới giải thoát." Bạn càng trở nên nhận biết về mọi thứ
bao quanh bạn, dần dần, bạn sẽ thấy rằng không chỉ thế giới bao quanh bạn, thân
thể riêng của bạn cũng bao quanh bạn. Điều đó nữa cũng là đối thể. Tôi có thể
nhìn tay tôi, tôi có thể cảm tay tôi, cho nên tôi phải là tách rời chứ. Nếu tôi
mà là thân thể thế thì sẽ không có cách nào để cảm thân thể - ai sẽ cảm nó? Để
biết, phân tách là được cần tới. Mọi tri thức, mọi việc biết, đều phân tách. Mọi
dốt nát đều là quên lãng, sự phân tách. Khi bạn trở nên nhận biết rằng thân thể
cũng là "kẻ khác," tâm thức bạn đang lắng đọng ở nhà.
Thế thì
bạn trở nên nhận biết rằng xúc động của bạn, ý nghĩ của bạn - chúng cũng là
"kẻ khác," bởi vì bạn có thể thấy chúng. Bạn đã thấy chúng lặp đi lặp
lại, nhưng bạn không nhớ rằng bạn là tách rời. Bạn nhìn một ý nghĩ thoáng qua
trên màn ảnh của tâm trí. Nó giống hệt như mây bay qua trên trời: bạn thấy mây
trắng bay qua hay mây đen bay qua, bay về hướng bắc. Khi một ý nghĩ trôi qua chỉ
nhìn chỗ nó đi, chỗ nó tới. Quan sát nó. Đừng bị dính líu; đừng trở thành một với
nó. Việc bị dính líu vào đó, trở thành một với nó, được gọi là đồng nhất,
tadatmya: và đó là dốt nát. Bị đồng nhất, bạn là trong dốt nát. Không bị đồng
nhất - tách rời, chứng kiến, quan sát - bạn đang đi hướng tới nhận biết.
Đây là
phương pháp, điều Upanishads gọi là "neti, neti," phương pháp khử dần:
bạn thấy thế giới - thế thì tôi không là thế giới; bạn thấy thân thể - thế thì
tôi không là thân thể; bạn thấy ý nghĩ - thế thì tôi không là ý nghĩ; bạn thấy
xúc động - thế thì tôi không là xúc động. Bạn cứ tiếp tục, tiếp tục, tiếp tục
mãi... một khoảnh khắc tới, chỉ người thấy còn lại; mọi cái được thấy đã biến mất,
và với cái được thấy, cả thế giới biến mất.
Trong
tính một mình đó của tâm thức có cái đẹp vô cùng, đơn giản vô cùng, hồn nhiên
vô cùng, mộc mạc. Ngồi trong tâm thức đó, được định tâm trong tâm thức đó không
có lo nghĩ, không lo nghĩ chút nào - không lo âu, không phiền não, không khổ,
không ghét, không yêu, không giận. Mọi thứ đã biến mất; duy nhất, bạn có đó.
Ngay cả cảm giác rằng "tôi đây" cũng không có đó, bởi vì nếu bạn cảm
thấy "tôi đây" bạn có thể trở nên nhận biết về cảm giác - cái đó là
tách rời khỏi bạn. Bạn hiện hữu. Đơn giản, bạn hiện hữu. Đơn giản tới mức không
có nhận biết rằng "tôi đây," chỉ cái "đây," hiện hữu. Đó là
định nghĩa về hiện hữu. Vấn đề không phải là triết lí, cách định nghĩa nó; vấn
đề là việc kinh nghiệm, cách kinh nghiệm nó.
Tất cả
đều bị khử bỏ, mọi mơ đều bị tan biến, toàn thế giới biến mất - bạn ngồi trong
bản thân bạn, không làm điều gì, thậm chí không một gợn suy nghĩ, thậm chí
không một làn gió xúc động thoảng qua bạn - mọi thứ tĩnh lặng thế và im lặng thế:
thời gian đã dừng lại, không gian đã biến mất. Đây là khoảnh khắc siêu việt.
Trong khoảnh khắc này, lần đầu tiên, bạn không còn là người dốt nát. Đây là cách
bạn trưởng thành trong hiện hữu. Đây là cách bạn trở thành người biết, không phải
là người thông thái. Bạn đã không thu thập bất kì thông tin nào; ngược lại, bạn
đã tách rời mọi thứ bao quanh bạn. Trần trụi toàn bộ, khoả thân, bạn như
shunya, cái trống rỗng.
Patanjali
nói đây là giải thoát khỏi dốt nát. Cho nên bước thứ nhất là cứ tách rời. Bất
kì cái gì bạn thấy, bao giờ cũng nhớ người thấy, rằng "Mình tách rời,"
và ngay lập tức, môt loại im lặng sẽ bao quanh bạn. Khoảnh khắc bạn nhớ,
"Mình là người thấy và không là cái được thấy," lập tức, bạn không
còn là một phần của thế giới này - lập tức, bạn đã siêu việt lên.
Bạn có
thể lại quên. Rất khó nhớ lúc bắt đầu, nhưng cho dù trong hai mươi tư giờ, nếu
bạn có thể nhớ một khoảnh khắc thôi, điều đó sẽ là đủ nuôi dưỡng rồi. Và dần dần
nhiều khoảnh khắc sẽ trở thành có thể. Một ngày tới khi bạn nhớ thường xuyên tới
mức chính nỗ lực nhớ là không được cần tới: nó trở thành tự nhiên, như việc thở
- bạn thở, bạn nhớ. Nói "nhớ" là không hay, vì không có nỗ lực. Nó
đơn giản xảy ra; nó đã trở thành sahaj, tự phát.
Thực
hành kiên định khu biệt...
Thế rồi
bước thứ hai. Bước thứ nhất: của tách rời, không đồng nhất giữa cái được thấy
và người thấy. Bước thứ hai:
Thực
hành kiên định khu biệt giữa cái thực và cái không thực đem tới việc xua tan dốt
nát.
Đây là
một bước; thế rồi có bước khác. Chúng cả hai cùng làm việc với nhau. Nói bước
kia là bước thứ hai là không hay lắm - chúng đi đồng thời. Nhưng tốt hơn cả là
bắt đầu bước thứ nhất với khu biệt giữa cái được thấy và người thấy; thế thì bước
kia sẽ là có thể, bởi vì bước kia là tinh tế hơn, phân biệt giữa cái thực và
cái không thực.
Chẳng hạn,
trong cuộc sống đời thường bạn đã hoàn toàn bị làm lộn xộn. Bạn không biết cái
gì là thực và cái gì là không thực. Bạn bị lộn xộn tới mức bất kì hư cấu nào
cũng có thể trở thành thực cho bạn; và khi nó trở thành thực, điều đó nghĩa là
khi bạn coi nó là thực, nó bắt đầu ảnh hưởng lên bạn, nó có vẻ thực hơn, bởi vì
nó đang ảnh hưởng tới bạn. Điều đó trở thành vòng luẩn quẩn.
Trong
đêm bạn mơ rằng ai đó ngồi lên ngực bạn với con dao và định giết bạn - cơn ác mộng.
Bạn la hét. Bởi vì việc la hét, giấc ngủ bị phá vỡ. Bạn mở mắt ra; không ai ngồi
trên ngực bạn cả. Có thể trong giấc ngủ bạn đã kéo gối lên ngực, hay chỉ có mỗi
tay bạn, và sức ép cho bạn ấn tượng; sức ép này tạo ra mơ. Bây giờ bạn biết nó
là mơ thôi, nhưng dầu vậy tim bạn vẫn cứ đập nhanh. Bạn biết rằng nó là mơ. Bây
giờ bạn thức dậy hoàn toàn. Bạn bật đèn lên - không có ai, chẳng có gì - nhưng
thân thể bạn vẫn cứ run rẩy một chút. Phải mất thời gian để lắng đọng lại.
Giấc mơ
không thực, làm sao nó tạo ra hiện tượng thực trong thân thể? Chỉ hai khả năng
có đó. Một, thân thể cũng không rất thực. Đó là quan điểm của người Hindu về cuộc
sống: vì mơ có thể ảnh hưởng tới nó, nó phải giống như mơ; nó không thể là thực.
Khả năng thứ hai là: bởi vì bạn coi mơ là thực, đó là lí do tại sao nó ảnh hưởng
tới bạn. Nó trở thành thực. Đấy chỉ là tâm trí riêng của bạn: nếu bạn coi cái
gì đó là thực nó trở thành thực. Nếu bạn hiểu, nó là không thực. Ngay lập tức
nó dừng ảnh hưởng lên bạn theo mọi cách.
Quan
sát mà xem: bạn cảm thấy đói. Nó là thực, thân thể bạn cần, hay chỉ bởi vì bạn
ăn hàng ngày vào giờ này; cho nên đồng hồ nói bây giờ là giờ ăn sao? "Cảm
thấy đói đi!" đồng hồ nói, và bạn lập tức theo mệnh lệnh này: bạn bắt đầu
cảm thấy đói. Nó có là đói thực không?
Nếu nó
là đói thực, bạn càng duy trì đói, nó sẽ càng tăng thêm. Nếu bạn ăn mọi ngày
vào một giờ và bạn cảm thấy đói lúc một giờ, đợi đã: sau đó mười lăm phút bạn
không cảm thấy đói; sau một giờ bạn đã hoàn toàn quên mất. Cái gì đã xảy ra? Nếu
đói là thực, sau một giờ nó phải đói hơn - nhưng nó đã biến mất. Đó là bịa đặt
của tâm trí - không phải nhu cầu thân thể thực, chỉ là nhu cầu tưởng tượng, nhu
cầu không thực.
Quan
sát cái gì là thực và cái gì là không thực và bạn sẽ trở nên nhận biết về nhiều
điều. Và thế rồi bạn có thể phân loại chúng ra và cuộc sống sẽ trở nên ngày
càng đơn giản hơn. Đây là điều tính chất sannyas nghĩa là gì: tìm ra cái gì là
không thực. Nếu nó là không thực, nếu bạn đã tìm thấy nó là vậy, nó đơn giản
không có quyền lực lên bạn. Khoảnh khắc bạn hiểu "cái này là không thực,"
quyền lực bị mất, việc này chết, nó không còn ảnh hưởng tới bạn. Cuộc sống trở
nên đơn giản hơn, tự nhiên hơn. Và thế rồi, dần dần, bạn trở nên nhận biết rằng
chín mươi chín phần trăm các thứ là không thật. Chín mươi chín phần trăm, tôi
nói. Tôi để một phần trăm cho bước cuối cùng, bởi vì ở bước cuối cùng điều đó nữa
cũng trở thành không thực - thực tại duy nhất còn lại là bạn. Mọi thứ, dần dần
được cảm thấy là không thực và bị bỏ đi. Cuối cùng, chỉ tâm thức là thực.
Chẳng hạn
trong đêm bạn ngủ, bạn thấy giấc mơ. Giấc mơ là thực trong đêm. Bạn coi nó là
thực. Bạn sống qua nó - bạn cảm, bạn giận, bạn yêu - đủ mọi loại xúc động, ý
nghĩ, đủ mọi loại cuộc sống trôi qua bạn. Thế rồi, đến sáng nó đã trở thành
không thực. Bây giờ bạn đang đi tới văn phòng, tới cửa hàng, tới thế giới, tới
chợ - bây giờ thế giới này là thực. Đến tối bạn về nhà. Bạn đi ngủ - chợ, cửa
hàng, bãi chợ - mọi thứ đã lại trở thành không thực lần nữa. Sâu trong giấc ngủ
bạn không nhớ tới chợ, gia đình, nhà cửa, lo âu - chúng tất cả đã biến mất.
Nhưng
duy nhất một điều bao giờ cũng còn lại: người thấy. Trong đêm, trong khi mơ diễn
ra, mơ có thể là mơ, nhưng người thấy không phải là mơ - bởi vì ngay cả để mơ tồn
tại, người thấy thực được cần tới. Cả hai không thể đều là mơ.
Bạn là
thanh niên, thế rồi bạn trở nên già, nhưng người thấy vẫn còn là một. Bạn ốm, bạn
trở nên mạnh khoẻ; nhưng cái được thấy vẫn còn là một. Tâm thức bên trong bạn bao
giờ cũng là một, nhân tố thường hằng - thực tại duy nhất, bởi vì người Hindu định
nghĩa thực tại là cái vẫn còn mãi mãi và mãi mãi. Định nghĩa của họ là,
"Cái là vĩnh hằng là thực, và cái nhất thời là không thực," bởi vì một
khoảnh khắc này nó có đó, khoảnh khắc tiếp nó mất đi. Sao gọi nó là thực được?
Nó là mơ. Bất kì cái gì có nghĩa cho một khoảnh khắc và thế rồi trở thành vô
nghĩa đều là mơ. Toàn thể cuộc sống, người Hindu nói, đều là mơ, khi bạn chết
đi toàn thể cuộc sống đã trở thành vô nghĩa, dường như nó chưa bao giờ tồn tại.
Dần dần,
việc khu biệt cái thực từ cái không thực, phân loại nó ra, nhận biết đích thực
hơn sẽ nảy sinh từ nó, ngày càng nhiều nhận biết đích thực sẽ nảy sinh ra từ
nó. Nhớ lấy, việc phân loại này, khu biệt này giữa cái thực và cái không thực,
là phương pháp để tạo ra nhiều nhận biết hơn. Vấn đề thực không phải là biết
cái gì là thực và cái gì là không thực. Vấn đề thực là: khi cố gắng biết cái gì
là thực và cái gì là không thực, bạn sẽ trở nên nhận biết mạnh mẽ. Nó là phương
pháp luận. Cho nên đừng bị mắc vào nó; bởi vì mọi người có thể bị mắc vào
phương pháp luận của họ. Bao giờ cũng nhớ nó là phương pháp luận. Nó chỉ là
phương cách. Bạn càng trở nên xuyên thấu và nhận biết về cái gì là thực và cái
gì là không thực - cái gì đang xảy ra giữa hai điều này? Sự mãnh liệt của bạn
đang trở nên ngày càng mãnh liệt, sống động hơn. Mắt bạn đang trở nên ngày càng
xuyên thấu hơn, nhìn xa hơn vào hiện tượng cuộc sống. Đó mới là vấn đề thực.
Với
yoga mọi thứ đều là phương cách. Mục đích là làm cho bạn nhận biết hoàn hảo, để
cho thậm chí không một mảng tối nào còn lại trong tim bạn, thậm chí không một
góc nào còn tối - toàn thể ngôi nhà đều được chiếu sáng. "Thực hành kiên định
khu biệt giữa cái thực và cái không thực đem tới việc xua tan dốt nát."
Cho nên vấn đề là: xua tan dốt nát.
Ở Ấn Độ
có vài loài rắn rất, rất độc, rắn mang bành và các loại rắn khác. Khi rắn mang
bành cắn người, vấn đề duy nhất là: nếu bạn có thể giữ cho người này tỉnh trong
ba mươi sáu giờ, chính thân thể tống chất độc ra khỏi nó. Máu tuần hoàn và làm
thuần khiết bản thân nó; chất độc bị tống ra ngoài hệ thống. Nhưng điểm duy nhất
là trong ba mươi sáu giờ người này phải không rơi vào giấc ngủ. Một khi người
này rơi vào giấc ngủ, thế thì điều đó là không thể được. Cho nên khi rắn mang
bành cắn người trong rừng ở Ấn Độ hay ở các bộ lạc nguyên thuỷ nơi không có thuốc
men khác tồn tại, cả làng sẽ tụ tập lại cùng nhau. Một lần tôi đã ở trong một
làng và chuyện đó xảy ra, và tôi đã quan sát toàn thể hiện tượng này - trong ba
mươi sáu giờ. Điều đó là hay, bởi vì đó là toàn thể quá trình trở nên nhận biết.
Vấn đề
là ở chỗ chất độc đó làm cho con người buồn ngủ. Người đó cảm thấy thôi thúc vô
cùng để rơi vào giấc ngủ. Nó không phải là giấc ngủ thường - thôi thúc vô cùng
để rơi vào giấc ngủ. Người đó không thể được phép ngồi; mọi người phải ngăn cản
người đó, giữ người đó. Ngồi hay đứng người đó đều phải bị gây choáng, và liên
tục tình huống được tạo ra - trống và dàn nhạc và ca hát và nhảy múa khắp xung
quanh, và la hét và gào thét và kêu to - để cho người đó không thể rơi vào giấc
ngủ. Khoảnh khắc mắt người đó nhắm lại người đó bị lay cho ra khỏi điều đó, lặp
đi lặp lại. Người đó thậm chí còn bị đánh. Một khoảnh khắc tới sau mười hai giờ,
người đó trở thành gần như không thể thức dậy: bạn cứ la hét, người đó không
nghe; thân thể người đó trở nên ẻo lả, bạn không thể giữ được người đó - đứng
hay ngồi. Thế thì người đó phải bị đánh đau; chỉ điều đó mới giữ cho người đó
thức. Nếu ba mươi sáu giờ được hoàn thành thì chất độc được thân thể tống ra và
người đó vẫn còn sống. Nếu người đó rơi vào giấc ngủ, cho dù vài phút, người đó
chết.
Toàn thể
nỗ lực của yoga là giống điều đó. Nhiều phương pháp phải được dùng để vẫn còn tỉnh
táo: và bởi vì điều này mà nhiều điều đã đi sai. Chẳng hạn, nhịn ăn: nhịn là
phương pháp để vẫn còn tỉnh táo - nó chẳng liên quan gì tới thân thể - bởi vì bất
kì khi nào bạn nhịn ăn bạn không thể rơi vào giấc ngủ dễ dàng. Để rơi vào giấc
ngủ, thân thể cần thức ăn. Khi bạn đã ăn quá nhiều bạn rơi vào giấc ngủ ngay lập
tức. Nếu bạn ăn quá nhiều, ngay lập tức bạn cảm thấy rằng bây giờ bạn không thể
di chuyển được. Bạn không thể làm được gì. Ý thức đánh mất bản thân nó. Toàn thể
năng lượng của thân thể dồn vào dạ dầy, nó bỏ đầu lại chỗ nó vẫn còn ý thức, bởi
vì thức ăn phải được tiêu hoá, và đó là điều đầu tiên cần được làm - ngay lập tức,
nhu cầu đầu tiên. Năng lượng toàn thân tập trung gần dạ dầy và bạn bắt đầu cảm
thấy buồn ngủ.
Trong
nhịn ăn, nếu bạn đã bao giờ nhịn ăn, bạn sẽ cảm thấy rằng trong đêm bạn không
thể rơi vào giấc ngủ được. Bạn lật mình lặp đi lặp lại; cái gì đó bị thiếu.
Năng lượng của thân thể hoàn toàn tự do - không cần tiêu hoá cái gì. Năng lượng
tự do di chuyển khắp thân thể. Nó không còn được tập trung vào dạ dầy. Thực ra
nó sẵn có, cho nên tâm trí bạn cứ vận hành: bạn vẫn còn tỉnh táo. Ngủ là khó.
Nhịn ăn là cách để tạo ra nhận biết. Nếu bạn nhịn ăn thời gian lâu, bạn sẽ đạt
tới nhị nguyên nào đó của nhận biết điều là khó đạt tới trong khi bạn cứ ăn. Nó
có thể được đạt tới, nhưng nó sẽ mất thời gian lâu hơn. Nhịn ăn là lối tắt để đạt
tới nó.
Nhưng, ở
đâu đó, cái gì đó đã đi sai. Nó bao giờ cũng xảy ra với người ngủ. Bạn cho họ
cái gì đó: họ trở nên bị nghiện với cái đó. Họ quên mục đích - phương pháp trở
thành mục đích; phương tiện trở thành cứu cánh. Bây giờ có hàng nghìn sư Jaina
liên tục nhịn ăn - và chẳng cái gì xảy ra. Tôi đã từ đi lang thang khắp nước gặp
gỡ nhiều kiểu người thế. Tôi đã hỏi hàng nghìn sư Jaina, "Sao ông nhịn
ăn?" Họ nói, "Vì điều đó làm thuần khiết thân thể." Tuyệt đối
ngu xuẩn.
Nó có
thể làm thuần khiết thân thể, nhưng đó không phải là vấn đề chút nào. Nó có thể
là tốt cho sức khoẻ nhưng thỉnh thoảng thôi, không phải luôn luôn. Nếu bạn đã
tích luỹ mỡ quá nhiều trong thân thể, làm thuần khiết nó sẽ có ích; nó giảm mỡ.
Nếu bạn đã ăn quá nhiều trong nhiều năm tới mức bạn đã tích luỹ nhiều chất độc
trong thân thể, nó giúp làm thuần khiết. Nhưng điều đó là phụ; điều đó không
liên quan gì tới tôn giáo cả. Nó là tự nhiên liệu pháp, không phải là tôn giáo.
Nhưng
sao sư Jaina phải làm thuần khiết thân thể? Ông ấy không ốm. Ông ấy không bị chất
độc. Ông ấy đã hoàn toàn quên mất mục đích. Mục đích là nhận biết. Bây giờ ông ấy
cứ thực hành phương tiện, dùng phương tiện, không biết tới mục đích. Ông ấy đơn
giản khổ. Cho nên nhịn ăn không còn là nhịn ăn nữa; nó là việc bỏ đói. Và điều
này đã xảy ra nhiều lần - gần như bao giờ nó cũng xảy ra - bởi vì mọi sự được
trao cho những người ngủ. Họ không thể hiểu được mục đích; mục đích là xa xôi.
Họ níu bám lấy phương tiện.
Bạn phải
đã thấy những bức hình, hay nếu bạn chưa thấy những bức hình này, bạn có thể tới
Benares và xem mọi người nằm trên giường gai. Đó là phương pháp cổ nhất để tạo
ra nhận biết, rất cổ, cổ đại nhất. "Để tạo ra nhận biết" - nó chẳng
liên quan gì tới kì công cả. Nó chẳng liên quan gì tới việc tạo ra ấn tượng lên
người khác. Người này không nên ở đó trên phố của Benares; người đó nên ẩn
trong rừng, rừng sâu, nơi không ai đạt tới, bởi vì đó không phải là triển lãm.
Nhưng bây giờ điều đó đã trở thành việc triển lãm.
Và bạn
sẽ thấy mọi người nằm trên giường gai và bạn sẽ không thấy một tia lửa nhận biết
nào trong mắt họ hey trên mặt họ; ngược lại, bạn sẽ cảm thấy họ rất, rất đờ đẫn,
không nhạy cảm - không thông minh, ngu ngốc. Đây là phép màu, bởi vì phương
pháp này là để tạo ra nhận biết. Điều gì đã xảy ra? Họ hoàn toàn quên mất nó để
làm gì: nó trở thành mục đích trong bản thân nó. Họ đã "học thủ đoạn."
Và nếu bạn phải học thủ đoạn, bạn phải trở nên vô cảm; chỉ thế thì bạn mới có
thể nằm trên giường đinh hay gai. Thân thể phải đờ đẫn tới mức nó không cảm thấy
gì mấy. Nó phải chết để cho gai hay đinh không thể làm hại nó. Bạn phải thu thập
đờ đẫn dầy quanh thân thể bạn, vô cảm.
Bây giờ
chính việc đảo lại mới là mục đích: trở nên nhạy cảm hơn, cảm thấy thân thể
trong mọi cảm giác của nó. Nếu bạn nằm trên giường đinh hay gai bạn sẽ cảm thấy
mọi lỗ chân lông của thân thể. Toàn thân đều đau - và cái đau cho bạn cú sốc,
và đau làm bạn thức, làm bạn tỉnh táo. Nó không phải là để được thực hành. Nếu
bạn thực hành nó, dần dần thân thể học được thủ đoạn. Thế thì thân thể trở nên
chết; thân thể bắt đầu tạo ra các chỗ chết để cho bất kì khi nào đinh đâm vào
thân thể một chỗ chết lại nảy sinh. Thân thể phải tự bảo vệ nó. Thế thì bạn sẽ
thấy người này nằm trên đinh tuyệt đối vô nhận biết - vô nhận biết hơn bạn. Nếu
bạn nằm trên giường bạn sẽ la hét với đau đớn. Bạn tỉnh táo hơn, bạn nhạy cảm
hơn. Người đó nằm một cách hạnh phúc; người đó thậm chí còn ngủ trên nó. Thân
thể người đó nhiều tính đá hơn. Người đó đã đánh mất cái gì đó được cần tới -
nhận biết. Bây giờ chính điều ngược lại đã xảy ra.
Và điều
này là vậy trong mọi thực hành tôn giáo: chúng trở thành nghi lễ. Tôi bắt gặp một
người từng đứng trong mười năm. Ông ta không ngủ; ông ta sẽ không ngồi; ông ta
đơn giản đứng - một trong những phương pháp hatha yoga cổ để tạo ra tâm thức, bởi
vì thân thể sẽ cần ngủ. Thân thể sẽ nói, "Tôi muốn đi ngủ." Bạn có thể
đứng được bao lâu? Sau vài giờ, hay vài ngày bạn sẽ cảm thấy thôi thúc vô cùng
để ngủ. Chế ngự thôi thúc đó, lờ nó đi, và vẫn còn tỉnh táo - đó là cái dụng của
phương pháp này.
Nhưng
tôi đã bắt gặp người này. Ông ta rất nổi tiếng, cả nghìn người tới bầy tỏ kính
trong ông ta, nhưng họ không biết họ đang làm gì và họ đang làm cho ai. Người
đó đã trở thành hoàn toàn đờ đẫn. Ông ta đã đứng lâu thế, chân ông ta đã trở
thành phần gần chết. Bây giờ ông ta không thể gập được chúng. Chúng đã trở
thành như nó xảy ra trong bệnh có tên là bệnh chân voi: chân trở thành như chân
của voi. Toàn thể trọng lượng thân thể của ông ta đã di chuyển xuống chân. Ông
ta là người gầy còm. Phần trên đã trở thành rất gầy và phần dưới đã thành rất dầy
và nặng. Ông ta bị bóp méo. Mặt ông ta méo mó.
Bạn có
thể thấy rằng ông ta đã tự hành hạ mình nhiều lắm - nhưng ông ta đã không trở
nên tỉnh táo; thay vì thế, qua hành hạ, ông ta đã trở nên hoà hợp với nó, đã được
thích nghi, miễn nhiễm. Bây giờ nó không làm ông ta bận tâm nữa. Ông ta đã mất
ý thức qua nó thay vì thu được.
Cho nên
nhớ lấy, đây là mọi phương pháp: khu biệt giữa cái được thấy và người thấy, khu
biệt giữa cái thực và cái không thực chỉ là phương pháp. Mục đích là nhận biết.
"Thực hành kiên định khu biệt giữa cái thực và cái không thực đem tới việc
xua tan dốt nát."
Giai đoạn
cao nhất của chứng ngộ được đạt tới trong bẩy bước.
Patanjali
tin vào trưởng thành dần dần. Ông ấy nói rằng mục đích được đạt tới trong bẩy
bước. Tôi nói nó được đạt tới trong một bước nhưng Patanjali đã chia cùng một
bước đó thành bẩy phần để làm cho nó dễ dàng hơn cho bạn, không gì khác. Bạn có
thể nhảy sáu bước, bẩy bước, trong một cú nhảy; bạn có thể bước cùng khoảng
cách trong bẩy bước. Patanjali không tin vào 'nhảy,' vì ông ấy biết bạn hèn; bạn
sẽ không có khả năng lấy cú nhảy. Bạn có thể được thuyết phục, thực ra là dụ dỗ,
dần dần lấy các bước nhỏ. Bạn có thể lấy những bước nhỏ vì với các bước nhỏ bạn
có thể chắc rằng không có nguy hiểm nào. Cú nhảy là nguy hiểm bởi vì bạn không
biết bạn sẽ tiếp đất ở chỗ nào. Một bước nhỏ: bạn có thể nhìn quanh và cảm thấy
an toàn; chậm rãi, bạn có thể bước nó: và bạn bao giờ cũng biết rằng nếu cái gì
đó đi sai bạn bao giờ cũng có thể bước lùi lại, vấn đề chỉ là một khoảng cách
nhỏ. Nhưng bạn có thể nhảy lùi lại nếu cái gì đó đi sai. Cú nhảy là thay đổi vô
cùng, triệt để.
Patanjali
bao giờ cũng nhìn vào bạn bất kì khi nào ông ấy nói cái gì đó. Bây giờ - ngay lập
tức - sau khi mô tả cách đạt tới nhận biết, lập tức ông ấy nói, "Giai đoạn
cao nhất của chứng ngộ được đạt tới trong bẩy bước." Cho nên đừng lo nghĩ,
đừng sợ, bạn có thể đi chậm.
Bẩy bước
này là gì? Số bẩy là rất rất quan trọng. Nó dường như là số quan trọng nhất. Từ
nhiều con đường thế và nhiều cách thức thế con số đó cứ bật ra lặp đi lặp lại.
Nếu bạn hỏi Gurdjieff, ông ấy nói có bẩy kiểu người. Bẩy kiểu người đó là bẩy
bước. Nếu bạn hỏi nhà bí truyền Kabbala hay các điều bí ẩn Ai cập, họ nói có bẩy
thể trong con người, bẩy tầng thân thể. Bẩy tầng đó của thân thể trở thành bẩy
bước. Nếu bạn hỏi nhà yogi, họ nói có bẩy trung tâm trong con người. Bẩy trung
tâm đó trở thành bẩy bước. Bằng cách nào đó, bẩy dường như là rất, rất quan trọng.
Và bạn sẽ bắt gặp số bẩy này lặp đi lặp lại, nhưng nghĩa cơ sở là như nhau.
Hai khả
năng - một, bạn lấy cú nhảy, cú nhảy bất thần, như các Thiền sư yêu cầu bạn làm
- như tôi bao giờ cũng hi vọng rằng bạn sẽ có khả năng làm. Trong cú nhảy này bẩy
bước đó được gói gọn trong một bước, nhưng nhiều dũng cảm được cần tới. Không
chỉ dũng cảm, mà dũng cảm phi lí được cần - bởi vì bạn đang đi vào trong cái
không biết. Khác biệt là bao la giữa bạn và thung lũng nơi bạn tiếp sẽ đất. Bạn
thậm chí không thể tưởng tượng được. Nó là từ cái biết tới cái không biết.
Không có trưởng thành dần dần: bùng nổ bất thần. Khả năng khác là chia không
gian thành bẩy - để cho bạn có thể đi chậm, để cho tâm trí tinh ranh của bạn,
tâm trí láu lỉnh, có thể được thoả mãn.
Mọi người
tới tôi và tôi hỏi họ, "Bạn có thích nhận tính chất sannyas không nghĩ ngợi
gì không, hay bạn muốn nghĩ về nó?" Hiếm khi điều xảy ra là ai đó nói,
"Tôi phát chán với nghĩ rồi." Maneesha đã nói rằng khi cô ấy tới.
Chính ngày đầu tiên cô ấy tới tôi, tôi hỏi, "Bạn có muốn nhận tính chất
sannyas không? Không nghĩ ngợi? Bạn có muốn trước hết nghĩ về nó, cảm thấy an
toàn? Hay bạn sẵn sàng ngay bây giờ?" Cô ấy nói, "Tôi phát chán với
suy nghĩ rồi." Hiếm khi điều xảy ra là ai đó nói "chán với suy
nghĩ."
Trong hầu
hết mọi trường hợp chuyện xảy ra là họ nói, "Chúng tôi sẽ nghĩ." Và họ
bỏ lỡ cơ hội, bởi vì nếu bạn nghĩ, bạn tiếp tục. Nếu bạn quyết định nó, thế thì
nó không còn là cú nhảy nữa. Nếu lí trí của bạn trước hết cảm thấy an toàn, cố
cảm thấy an toàn, mọi an ninh, cố hiểu mọi thứ; thế thì nó vẫn còn là dạng được
sửa đổi của bản thể bạn. Thế thì quá khứ của bạn cứ chơi một phần trong nó. Và
tính chất sannyas nghĩa là vứt bỏ quá khứ; nó không phải là trạng thái được sửa
đổi của quá khứ của bạn. Nó là cách mạng toàn bộ: nó là triệt để. Cho nên những
người nói, "Chúng tôi sẽ nghĩ," bỏ lỡ cái gì đó. Họ tới. Họ nghĩ về
nó trong vài ngày, thế rồi họ tới, thế rồi họ nhận tính chất sannyas - nhưng
nhiều thứ hơn là có thể, nhiều thứ hơn là sẵn có. Họ đơn giản bỏ lỡ nó. Nếu bạn
có thể lấy cú nhảy, thế thì lấy cú nhảy đi. Nếu bạn muốn đi chậm, bạn có thể
đi, nhưng bạn sẽ bỏ lỡ cái gì đó.
Tôi đã
thấy việc xảy ra này. Những người dũng cảm với chứng ngộ bất thần, họ đạt tới đỉnh
mà không bao giờ được đạt tới bởi người trưởng thành dần. Những người này cũng
đạt tới đỉnh, nhưng họ đạt tới kiểu dần dần thế, họ chia toàn thể không gian
thành nhiều phần tới mức nó không bao giờ trở thành cực lạc. Họ đạt tới cùng đỉnh.
Bạn phải
quan sát rồi. Một Meera nhảy múa, một Chaitanya điên và nhảy múa và ca hát. Nhà
yogis sao? Không, họ không bao giờ nhảy múa, họ không bao giờ hát, bởi vì họ đạt
tới dần dần tới mức nó không bao giờ là kinh nghiệm hồ hởi, không bao giờ. Họ đạt
tới dần dần thế, trong các bộ phận họ đạt tới cực lạc. Họ đạt tới nó trong nhiều
liều thế - những liều nhỏ, liều vi lượng - tới mức trước khi liều khác được
cho, liều thứ nhất mất rồi, họ đã hấp thu nó, tiêu hoá nó. Thế rồi liều thứ hai
được cho - điều đó nữa cũng được hấp thu trước khi liều thứ ba tới. Họ không thể
nhảy múa. Bạn không thể thấy nhà yogi nhảy múa. Ông ta đã bỏ lỡ cái gì đó. Ông
ta đã đạt tới cùng đỉnh, nhưng trên con đường cái gì đó bị mất.
Tôi bao
giờ cũng thiên về bất thần, bởi vì khi bạn đang sắp đạt tới, sao không nhảy múa
đạt tới? Khi bạn sắp đạt tới, sao không đạt tới trong cực lạc sâu sắc của bản
thể? Nhà yogi có vẻ giống như kinh doanh - tính toán, toán học - không điên như
người yêu. Nhưng cả hai con đường đều mở. Chọn lựa dành cho bạn.
Điều đó
cũng giống như bạn trúng xổ số - mười vạn ru pi - và thế rồi một ru pi được
trao cho bạn, thế rồi một ru pi khác, thế rồi lại một ru pi khác; dần dần bạn
có được nó, nhưng bạn không bao giờ được phép có mười vạn ru pi và bạn không
bao giờ được phép biết rằng bạn sẽ có mười vạn ru pi. Bạn sẽ đạt tới mười vạn
ru pi, nhưng một nghìn năm sẽ trôi qua - và bạn bao giờ cũng vẫn còn là kẻ ăn
xin: một ru pi trong túi. Trước khi bạn dùng nó, đồng khác sẽ không được trao;
khi bạn đã dùng nó rồi, đồng khác sẽ được trao.
Chứng
ngộ bất thần có cái đẹp, cái đẹp hoang sơ về nó: rằng đột nhiên bạn được cho mười
vạn ru pi - bạn có thể nhảy múa! Nhưng nếu bạn yếu tim tốt hơn cả là đi chậm
thôi.
Tôi đã
nghe, chuyện xảy ra: Một người bao giờ cũng mua vé xổ số, và như nó vẫn xảy ra,
anh ta chả bao giờ được giải nào. Nhiều năm qua đi, nhưng điều đó đã thành lệ
thường. Mọi tháng anh ta sẽ đi và mua vài vé số từ tiền lương. Nhưng một hôm
chuyện xảy ra. Anh ta ở văn phòng và vợ đi tới biết rằng anh ta đã đạt được mục
đích - mười vạn ru pi. Cô ấy trở nên sợ hãi bởi vì anh ta là người nghèo, anh
ta lĩnh lương hàng tháng chỉ một trăm ru pi. Mười vạn ru pi sẽ là quá nhiều. Nó
sẽ nhiều tới mức nó có thể làm anh ta chết.
Cho nên
phải làm gì? Cô ấy chạy tới một trong các hàng xóm, ông ta là linh mục trong
nhà thờ. Ông ta là người khôn ngoan, và cô ấy không thể nghĩ được về bất kì ai khôn
ngoan hơn, cho nên cô ấy đi tới đó và kể cho linh mục, "Cha phải làm cái
gì đó đi. Anh ấy sẽ về từ văn phòng, và nếu anh ấy mà biết 'mười vạn ru pi' một
cách đột ngột thế, chắc chắn anh ấy sẽ không sống được. Con biết anh ấy rõ lắm.
Anh ấy là người keo kiệt và anh ấy chưa bao giờ thấy hơn một trăm ru pi. Anh ấy
sẽ phát điên hay anh ấy sẽ chết, nhưng cái gì đó sẽ xảy ra. Cha tới và cứu anh ấy
đi."
Người
khôn ngoan nói, "Cha sẽ tới. Đừng sợ; cha tới mà."
Ông ta
lập kế hoạch, như mọi người tính toán lập kế hoạch. Người này về nhà. Linh mục
ngồi đó rồi. Ông ta nói, "Con nghe đây, con đã trúng xổ số. Con đã trúng xổ
số một vạn ru pi."
Ông ta
nghĩ đây sẽ là liều nhỏ - ông ta đã chia nó ra thành mười phần. Dần dần ông ta
sẽ nói rằng không, không phải một, mà hai. Khi ông ta thấy rằng anh ta đã hấp
thu được cú sốc, ông ta sẽ nói ba.
Người
này nói, "Một vạn ru pi à? Có thực không? Nếu nó là thực, con sẽ biếu cha
một nửa số đó cho nhà thờ của cha."
Tu sĩ
lăn đùng và chết mất ngáp. Năm mươi nghìn ru pi! Ông ta không thể tin được vào
điều đó. Quá nhiều.
Cho nên
bạn phải chọn; chọn lựa là của bạn. Nếu bạn cảm thấy trái tim là mạnh, đi cùng
tôi. Nếu bạn cảm thấy trái tim là yếu và có khả năng đau tim, đi cùng
Patanjali. Ông ấy là nhà toán học. Ông ấy cho bạn các liều chậm, nhưng nhớ lấy,
bạn sẽ bỏ cái gì đó. Bạn sẽ đạt tới cùng trạng thái của vấn đề, cùng trạng thái
của bản thể - im lặng, phúc lạc - nhưng cực lạc sẽ không có đó. Bạn sẽ ngồi dưới
cây bồ đề, im lặng; nhưng bạn sẽ không có khả năng nhảy múa như một Meera hay
như một Chaitanya. Và điệu vũ đó có cái gì đó trong nó. Nó bao giờ cũng xảy ra
cho những người đạt tới bất thần.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment