Yoga:
Alpha và Omega (Tập 9)
Bài
nói về Kinh Yoga của Patanjali
Chương
7. Tri thức cao nhất: tất cả một lúc
Thực hiện
samyama trên khoảnh khắc hiện tại, khoảng khắc này qua đi, và khoảnh khắc này tới
đem theo tri thức được sinh ra từ nhận biết về thực tại tối thượng.
Từ điều
này đi tới khả năng phân biệt giữa các đối thể tương tự mà không thể được nhận
diện bởi tầng lớp, tính cách hay nơi chốn.
Tri thức
cao nhất được sinh ra từ nhận biết về thực tại là siêu việt, bao hàm nhận thức
về mọi đối thể đồng thời, gắn liền với mọi đối thể và các quá trình dù là bất
kì cái gì - trong quá khứ, hiện tại và tương lai và siêu việt lên trên quá
trình thế giới.
Thời
gian là gì? Bây giờ Patanjali hỏi câu hỏi vô thời gian, câu hỏi tồn tại mãi và
ông ấy đi tới nó tại chính tận cùng của "Vibhuti Pada" bởi vì biết thời
gian là phép màu lớn nhất. Biết thời gian là gì, là biết cuộc sống là gì.
Biết thời
gian là gì, là biết chân lí là gì. Trước khi chúng ta đi vào lời kinh này, nhiều
điều phải được hiểu; chúng sẽ trở thành việc giới thiệu về lời kinh.
Bình
thường điều chúng ta gọi là thời gian thì không phải là thời gian thực. Nó là
thời gian lịch biểu. Cho nên nhớ rằng thời gian có thể được phân chia, phân lớp,
theo ba cách. Một là "lịch biểu," và cách khác là "tâm lí,"
và cách thứ ba là "thực." Thời gian lịch biểu là thời gian đồng hồ.
Nó là tiện dụng, nó không phải là thực. Nó chỉ là niềm tin được xã hội đồng ý.
Chúng ta đã đồng ý phân chia ngày thành hai mươi tư giờ. Nó là rất tuỳ tiện, rằng
trái đất di chuyển trong một vòng đầy đủ trên trục của nó trong hai mươi bốn giờ;
chúng ta đã quyết định phân chia nó thành hai mươi bốn phần. Thế rồi chúng ta
đã quyết định phân chia mỗi giờ thành sáu mươi phút. Không có sự cần thiết cố hữu
nào để phân chia theo cách đó. Một số nền văn minh khác có thể phân chia nó
theo cách khác. Chúng ta có thể phân chia giờ thành một trăm phút và không ai sẽ
ngăn cản chúng ta. Thế rồi mỗi phút chúng ta đã phân chia thành sáu mươi giây.
Điều đó nữa cũng là tuỳ ý, chỉ là tiện dụng. Nó là thời gian đồng hồ. Nó được cần
tới, bằng không xã hội sẽ rời ra.
Cái gì
đó như chuẩn chung là sự cần thiết - cũng như tiền, tiền lưu hành. Tờ một trăm
rupi, tờ mười đô la, hay bất kì cái gì khác - nó chỉ là niềm tin chung mà xã hội
đã đồng ý dùng. Nhưng nó chẳng liên quan gì tới sự tồn tại. Nếu con người biến
mất khỏi trái đất, đồng bảng, đồng đô la, đồng ru pi tất cả sẽ biến mất ngay lập
tức. Trái đất sẽ không có tiền ngay lập tức khi không có người. Đá sẽ có đó,
hoa sẽ vẫn nở hoa, mùa xuân sẽ tới và chim sẽ hót, và đến cuối thu lá úa sẽ rụng;
nhưng sẽ không có tiền. Cho dù có hàng chồng tiền trên đường, nó sẽ không là tiền
chút nào, vì để gọi nó là tiền cần phải có người, để kính trọng nó như tiền,
người cần phải có.
Chính
phủ cứ hứa hẹn, trên từng tờ tiền lời hứa đều được viết: Thống đốc tài chính hứa
trả cho bạn mười ru pi theo trị giá vàng nếu bạn trình ra tờ bạc này ở ngân
hàng. Nó chỉ là lời hứa. Khi không có ai để hứa, tiền tệ biến mất.
Khi con
người không có đó trên trái đất, đồng hồ có thể cứ điểm chuông giờ, nhưng nó sẽ
không là thời gian chút nào. Không ai sẽ bận tâm, không ai sẽ nhìn vào chúng.
Thời gian đồng hồ sẽ dừng lại ngay lập tức nếu con người không có đó; cho nên
nó là thứ nhân tạo, một sản phẩm phụ của xã hội.
Xã hội
càng chuyển lên cao hơn - và khi tôi nói "cao hơn" tôi ngụ ý nó trở
nên phức tạp hơn - nó càng ngày càng trở nên bị ám ảnh với thời gian lịch biểu.
Con người nguyên thuỷ không dùng đồng hồ. Nếu bạn tặng anh ta chiếc đồng hồ đeo
tay, anh ta đơn giản bị phân vân, để làm gì? Anh ta sẽ làm gì với nó? Người văn
minh không thể sống được nếu thiếu đồng hồ. Gần như không thể nào sống được
trong xã hội văn minh mà không có đồng hồ bởi vì toàn thể xã hội chạy tương ứng
theo đồng hồ, cho dù thỉnh thoảng chạy vào trạng thái lố bịch. Tôi sẽ kể cho bạn
một giai thoại.
Có tiếng
gõ to ở cửa khi bác sĩ đã đóng lại để đi ngủ. Ông ta ngồi dậy và hỏi người
ngoài cửa, "Cái gì vậy!" "Tôi bị chó cắn," người này nói.
"Này, anh không biết rằng giờ tư vấn chữa bệnh của tôi là giữa mười hai giờ
và ba giờ chiều à?" "Có chứ," bệnh nhân gào lên, "nhưng con
chó không biết và nó cắn tôi lúc hai mươi bốn giờ. Vậy tôi phải làm gì
đây?"
Chó
không tin vào đồng hồ, và mọi sự có thể đi tới chỗ cuối buồn cười.
Một khi
bạn nghĩ dưới dạng đồng hồ, bạn quên mất rằng đây chỉ là tiện dụng. Nó không phải
là thời gian thực. Tại nhà một bác sĩ khác:
Biển hiệu
đằng sau bàn ở nơi tiếp đón của bệnh viện viết: Đăng kí cấp cứu khẩn. Một người
loạng choạng bước vào, người thâm tím và vấy bùn. Anh ta được băng kín bằng
băng máu, khập khiễng trên cả hai chân, bám chặt tay để cầm dòng máu. Anh ta bò
tới bàn và gào lên, "Bác sĩ ơi, bác sĩ ơi."
Cô tiếp
tân hỏi, "Ông có giấy hẹn không, thưa ông?"
Điều
như vậy có thể xảy ra ở đây trong đạo tràng này nữa; nó có thể xảy ra ở bàn của
Sheela.
Một khi
thời gian lịch biểu được coi quá nghiêm chỉnh, thế thì người ta quên mất mọi thứ
khác. Toàn thể phương Tây bị ám ảnh với thời gian quá nhiều. Mọi thứ đều phải
được thực hiện theo thời gian.
Một
trong những người bạn của tôi đã du hành ở Anh cùng với một trong những người bạn
Anh của anh ta, và anh kể với tôi là mọi thứ đã trở thành thường lệ tới mức ở
Anh bạn nghe thấy cách diễn đạt như "thời gian uống trà," "thời
gian ăn tối," "thời gian ăn trưa." Chúng ngụ ý gì? Làm sao thời
gian có thể quyết định được thời gian cho ăn trưa, chừng nào bạn chưa cảm thấy
đói? Khi bạn nói "thời gian ăn trưa," nó nghĩa là "thời gian
đói" - bây giờ đói đi! Và nếu bạn không đói, thế thì cái gì đó là sai với
bạn. Thời gian uống trà nghĩa là bây giờ sẵn sàng để uống trà. Nếu bạn không cảm
thấy muốn uống, thế thì cái gì đó sai với bạn; bạn phải uống nó chứ. Dần dần mọi
người đã quên mất cơn đói thực của họ, cơn khát thực của họ. Mọi thứ đều được lấy
đúng giờ. Đồng hồ quyết định. Đồng hồ đã trở thành kẻ chi phối, nó chi phối.
Đây là một thế giới rất không thực, bị chi phối bởi đồng hồ.
Bây giờ
có những nhà giáo dục, những nhà tâm lí cứ bảo các bà me cho con uống sữa vào
những giờ nào đó, sau mỗi ba giờ. Đứa bé đang khóc, đứa bé đói; mẹ nhìn đồng hồ.
Chưa tới giờ. Đứa bé đang đói; điều đó chẳng có gì phải lo nghĩ cả. Đồng hồ phải
được nhìn vào. Bởi vì khi đứa bé đói, đứa bé không được tin tưởng, mà phải tin
vào bác sĩ. Bây giờ đó không phải là chuyện của bác sĩ để can thiệp vào. Nhưng
một khi bạn trở nên bị ám ảnh với cái không thực, nhiều cái không thực đi vào
trong cuộc sống của bạn. Tôi đã nghe:
Một người
Ai len ngã từ chiếc thang và nằm hình như bất tỉnh trên đất. Một đám đông tụ lại
quanh anh ta và bác sĩ được gọi tới, ông ta nói ngay rằng người đáng thương này
đã chết. Pat mở mắt ra và phủ nhận mau lẹ lời buộc tội.
"Sì!
Pat," một trong những người đứng đó nói. "Đừng nói điều vô nghĩa. Chắc
chắn bác sĩ biết rõ nhất."
Cho dù
bạn còn sống và bác sĩ nói bạn chết, bạn phải cư xử như người chết - bởi vì tất
nhiên chuyên gia biết và ông ấy biết rõ nhất.
Với thời
gian lịch biểu, thế giới của chuyên gia đã đi vào trong sự tồn tại, bởi vì bạn
đã mất rễ của bạn trong thực tại. Với mọi thứ bạn đều phải hỏi ai đó. Mọi người
tới tôi và họ nói, "Osho ơi, nói cho chúng tôi, chúng tôi cảm thấy thế
nào." Bạn cảm thấy bạn phải biết thế nào. Nhưng tôi hiểu. Cái chạm, cái tiếp
xúc, tính kết nối với thực tại bị mất. Ngay cả bạn cảm thấy thế nào bạn cũng phải
đi hỏi ai đó biết. Bạn phải dựa vào ai đó khác, Đây là bất hạnh, nhưng nó đã xảy
ra theo các bước chậm chạp và nhân loại đã không nhận biết.
Thời
gian lịch biểu không được dùng bây giờ. Nó không còn là phương tiện nữa; nó đã
gần trở thành chỗ kết thúc. Nhớ lấy, nó là thời gian giả. Nó không liên quan tới
thực tại.
Sâu bên
dưới từ nó, ở ngay dưới nó, là thời gian khác, cái không là thực, nhưng lại thực
hơn thời gian lịch biểu; đó là thời gian tâm lí. Có đồng hồ, đồng hồ sinh học,
bên trong bạn. Hơn đàn ông, đàn bà tỉnh táo với nó. Họ cũng sẽ không tỉnh táo
được lâu đâu bởi vì họ đang cố gắng bằng mọi cách bắt chước đàn ông. Dầu vậy
thân thể họ vận hành như chiếc đồng hồ bên trong. Sau mỗi hai mươi tám ngày,
kinh nguyệt lại tới. Thân thể vận hành như chiếc đồng hồ bên trong, đồng hồ
sinh học.
Nếu bạn
quan sát, thế thì bạn sẽ thấy cơn đói tới ở thời gian nào đó mọi ngày. Nếu bạn
khoẻ và mạnh khoẻ, thế thì nhu cầu rơi vào trong hình mẫu nào đó, và hình mẫu
đó được lặp lại. Nó chỉ bị phá vỡ khi bạn không khoẻ; bằng không thân thể chuyển
động êm ả, chạy theo hình mẫu êm ả. Và nếu bạn nhận biết về hình mẫu đó, bạn sẽ
sống động hơn là người sống theo đồng hồ. Bạn ở gần với thực tại hơn.
Thời
gian lịch biểu là cố định, nó phải được cố định, bởi vì nó là sự cần thiết xã hội,
nhưng thời gian tâm lí là linh động, nó không cứng nhắc thế, bởi vì từng người
đều có tâm lí riêng của mình, tâm trí riêng của mình. Bạn có quan sát không?
Khi bạn hạnh phúc, thời gian trôi nhanh.
Đồng hồ
của bạn sẽ không đi nhanh, đồng hồ chẳng có liên quan gì tới bạn. Nó di chuyển
theo nhịp riêng của nó - trong sáu mươi giây nó di chuyển một phút, trong sáu
mươi phút nó di chuyển một giờ. Nó sẽ tiếp tục; dù bạn hạnh phúc hay bất hạnh
không thành vấn đề. Nếu bạn bất hạnh, tâm trí của bạn sẽ ở thời gian khác; nếu
bạn hạnh phúc tâm trí bạn sẽ ở thời gian khác. Nếu đột nhiên người yêu của bạn
tới, tiếng gõ cửa bất ngờ, thời gian sẽ gần như dừng lại. Nhiều giờ sẽ trôi qua
- bạn có thể không làm gì cả, chỉ cầm tay và ngồi và nhìn trăng - nhiều giờ sẽ
trôi qua, và nó sẽ có vẻ dường như chỉ vài phút mới trôi qua. Thời gian đi rất,
rất nhanh khi bạn hạnh phúc. Khi bạn bất hạnh - ai đó chết, ai đó bạn yêu, cái
chết đã xảy ra - thế thì thời gian đi rất, rất, rất chậm.
Mới đêm
hôm nọ Meera tới. Chồng cô ấy chết vài tháng trước. Cô ấy đã tới gặp tôi sau
cái chết, và tôi đã bảo cô ấy đừng lo nghĩ, vết thương sẽ lành. Nó sẽ cần chút
ít thời gian, gần ba tháng. Nhưng ba tháng đó chỉ là trung bình vì nó sẽ phụ
thuộc vào người. Bây giờ cô ấy tới đêm qua và cô ấy nói, "Bây giờ năm
tháng đã qua rồi và nỗi đau vẫn còn đó. Tất nhiên nó ít đi rồi, nhưng nó vẫn
còn đó, nó không mất đi; và thầy đã nói rằng trong vòng ba tháng nó sẽ
đi." Tôi biết chứ. Thỉnh thoảng sẽ phải mất một năm, thỉnh thoảng sẽ mất
sáu tháng, thỉnh thoảng thậm chí không mất tới ba tháng, ba ngày cũng có tác dụng.
Nó không phải là theo lịch biểu, nó là tâm lí. Nó tuỳ thuộc vào bạn, vào mối
quan hệ, kiểu quan hệ nào tồn tại giữa bạn và chồng bạn
Và tôi
biết mối quan hệ là không tốt. Đó là lí do tại sao vết thương sẽ lành và sẽ mất
thời gian dài. Điều này sẽ có vẻ ngược đời, nhưng đây là cách nó vậy. Nếu bạn
đã yêu một người và người đó chết, bạn sẽ cảm thấy buồn, nhưng bạn sẽ phục hồi
- chóng thôi. Sẽ không có vết thương. Bạn đã yêu người đó; không cái gì là
không đầy đủ. Nhưng giữa Meera và chồng cô ấy mối quan hệ không tốt; trong nhiều
năm họ đã gần như tách rời. Cô ấy muốn yêu nhưng không thể yêu được. Cô ấy muốn
ở cùng với anh ấy nhưng không thể ở cùng được. Bây giờ người chồng mất rồi, và
mọi hi vọng của cô ấy để ở cùng với anh ấy cũng mất đi cùng với anh ấy. Cô ấy
khao khát, cô ấy mong muốn, cô ấy muốn, và điều đó không thể xảy ra. Bây giờ
người này mất rồi; bây giờ không có khả năng nào nữa. Bây giờ tính một mình của
cô ấy bị đóng xi lại, bây giờ không có cách nào để yêu người đàn ông này. Anh ấy
đã sống, cô ấy không thể yêu được, đã có vấn đề giữa họ; bây giờ người này mất
rồi, cho nên không có khả năng nào. Bây giờ vết thương này sẽ lành rất chậm - rất,
rất chậm. Và ngay cả khi nó được chữa lành sẽ vẫn còn nỗi buồn nào đó quanh nó
mãi mãi.
Bất kì
cái gì không đầy đủ đều rất khó rơi rụng đi. Những thứ đầy đủ chín muồi và rụng
theo cách riêng của nó. Khi quả chín nó rụng. Tất nhiên trong vài giây cây cảm
thấy cái gì đó bị mất, và thế rồi nó quên. Được kết thúc, bởi vì quả chín phải
rụng. Mọi người đều phải chết. Bạn đã yêu trong khi người đàn ông còn sống - và
bạn đã yêu vô cùng và toàn bộ. Bạn gần như được hoàn thành; bạn không thể đòi hỏi
thêm được. Như nó vậy, nó đã là quá nhiều. Bạn biết ơn là Thượng đế đã cho bạn
nhiều thời gian đó. Ngài có thể đã lấy người này đi sớm hơn chút ít, nhưng ngài
đã cho bạn đủ thời gian, và bạn đã yêu và bạn đã yêu. Trong tình yêu ngay cả một
khoảnh khắc cũng trở thành vĩnh hằng. Bạn hạnh phúc thế thời gian dừng lại. Một
cuộc sống nhỏ trở thành rất, rất thân thiết. Nhưng điều đó đã không xảy ra, cho
nên tôi có thể hiểu được nỗi khổ của Meera.
Nhưng
cô ấy phải đối diện với nó và hiểu nó. Nó không chỉ là vấn đề về việc chết của
người chồng. Điều đó không phải là vấn đề lớn thế. Chồng chết, vợ chết; điều đó
không phải là vấn đề lớn, đó là tự nhiên. Vấn đề là ở chỗ tình yêu có thể không
xảy ra. Nó vẫn còn là giấc mơ, ham muốn, và bây giờ nó sẽ vẫn còn không được
hoàn thành. Bạn không thể tìm được người đó lần nữa, cho nên chương đó không thể
được hoàn thành. Sự không hoàn thành này sẽ vận hành như vết thương. Đó là lí
do tại sao đã phải mất thời gian lâu hơn. Nó sẽ vẫn cần thời gian lâu hơn một
chút.
Thời
gian tâm lí là thời gian bên trong của bạn, và chúng ta sống trong thời gian lịch
biểu cùng nhau, thời gian Greenwich - nó không có tính cá thể. Thời gian tâm lí
có tính cá thể, và từng người có thời gian riêng của mình. Nếu bạn hạnh phúc, cảm
giác của bạn về thời gian chậm lại. Nếu bạn bất hạnh thời gian dài ra. Nếu bạn ở
sâu trong thiền, thời gian dừng lại. Thực ra ở phương Đông chúng ta đã từng đo
trạng thái của tâm trí qua thời gian. Nếu thời gian dừng lại hoàn toàn, thế thì
trạng thái là phúc lạc. Nếu thời gian chậm lại rất nhiều, thế thì trạng thái là
của khổ.
Trong
Ki tô giáo người ta nói rằng địa ngục là vĩnh hằng. Bertrand Russell đã viết một
cuốn sách, Tại sao tôi không là người Ki tô giáo, trong đó ông ấy cho nhiều luận
cứ tại sao ông ấy không phải là người Ki tô giáo. Một trong các luận cứ là thế
này, "Tôi không thể tin được rằng địa ngục có thể là vĩnh hằng bởi vì bất
kì cái gì là tội lỗi, chúng đều bị giới hạn. Bạn không thể làm được tội lỗi vô
giới hạn. Cho nên với những tội lỗi bị giới hạn mà lại trừng phạt vô giới hạn -
điều đó là bất công." Luận cứ này là đơn giản. Không ai có thể cãi chống lại
Bertrand Russell được; ông ấy đang nói một sự kiện đơn giản. Ông ấy tự nói với
mình, "Nếu tôi bị phạt về mọi tội tôi đã phạm phải trong cả đời tôi, thế
thì không quá bốn năm tù. Và ngay cả nếu những tội lỗi mà tôi chưa phạm nhưng
chỉ nghĩ tới thôi, cũng được tính vào, thế thì nhiều nhất là tám năm thôi, hay
một lề nhỏ nữa thêm vào, mười năm. Nhưng địa ngục vô hạn, vĩnh hằng sao?"
Thế thì Thượng đế dường như quá báo thù, chẳng có vẻ gì thiêng liêng cả, không
có vẻ có tính thánh thiện, có vẻ giống như một thế lực quỉ dữ, rất khủng khiếp.
Bởi vì
bạn đã yêu người đàn bà, người đã không phải là vợ bạn, bây giờ bạn sẽ khổ -
vĩnh viễn. Điều này là quá nhiều. Bạn đã không phạm phải tội lớn thế. Chính
tính người là rơi vào tình yêu, và khi người ta rơi vào tình yêu khó mà quyết định
được liệu rơi vào tình yêu với người đàn bà mà không phải là vợ của ai đó khác.
Hmm ?... yêu gần như mù quáng. Nó sở hữu bạn.
Vâng,
Bertrand Russell dường như phải, luận cứ của ông ấy dường như hợp thức, nhưng
tôi nói luận cứ này là không hợp thức. Ông ấy đã bỏ lỡ toàn thể vấn đề. Và
không nhà thượng đế học Ki tô giáo nào đã trả lời cho ông ấy về điểm đó. Họ
không thể trả lời được bởi vì họ cũng đã quên. Họ cứ nói về các lí thuyết,
nhưng họ đã quên thực tại. Khi Jesus nói địa ngục là vĩnh viễn, ông ấy ngụ ý thời
gian tâm lí, không phải thời gian lịch biểu. Vâng, nếu ông ấy ngụ ý thời gian lịch
biểu, thế thì điều đó là tuyệt đối ngớ ngẩn, ném một người vào địa ngục vĩnh viễn.
Ông ấy ngụ ý thời gian tâm lí, ông ấy ngụ ý rằng một khoảnh khắc trong địa ngục
sẽ có vẻ giống như vĩnh hằng. Nó sẽ chậm lại nhiều thế bởi vì bạn sẽ trong khổ
não và đau đớn tới mức ngay cả một khoảnh khắc sẽ giống như vĩnh hằng. Bạn sẽ cảm
thấy nó sẽ không chấm dứt lúc nào, nó không đi tới chấm dứt. Bạn sẽ cảm thấy nó
tiếp tục tới chấm dứt. Bạn sẽ cảm thấy nó tiếp tục, tiếp tục, tiếp tục.
Điều đó
không nói gì về thời gian cả, nó nói cái gì đó về cảm giác của bạn khi bạn đang
ở trong đau đớn, phiền não sâu sắc. Và tất nhiên địa ngục là điều tối thượng
trong đau đớn. Và Jesus là hoàn toàn đúng, Bertrand Russell sai, nhưng Bertrand
Russell đã hiểu lầm điều đó bởi vì Jesus đã không nói đích xác thời gian
"tâm lí." Ông ấy nói "vĩnh hằng" bởi vì trong những ngày thời
đó ngôn ngữ này đã được hiểu. Đã không có nhu cầu tạo ra việc định phẩm này.
Thời
gian tâm lí mang tính cá thể. Bạn có thời gian tâm lí của bạn, vợ bạn có thời
gian tâm lí của cô ấy, con bạn có thời gian tâm lí của nó, và tất cả đều khác
nhau. Đó là một trong những nguyên nhân của xung đột trên thế giới. Bạn bóp còi
xe, và vợ nói từ cửa sổ, "Em tới đây," và cô ấy cứ đứng trước gương
và bạn cứ bóp còi rằng "Đến giờ rồi và chúng ta sẽ lỡ chuyến tầu hoả,"
và cô ấy phát bực mình, và bạn phát bực mình. Cái gì xảy ra? Mọi chồng đều bực
khi anh ta ngồi trong chỗ lái xe và bấm còi và vợ vẫn chuẩn bị sẵn sàng, vẫn mới
chuẩn bị sẵn sàng. Cô ấy vẫn chọn bộ áo quần mặc đi. Bây giờ tầu hoả không bận
tâm về bộ quần áo nào bạn mặc. Chúng vẫn rời ga đúng giờ. Chồng phân vân quá
nhiều, cái gì đang diễn ra. Hai thời gian tâm lí khác nhau bị xung đột.
Đàn ông
đã di chuyển theo thời gian lịch biểu, đàn bà vẫn sống trong thời gian tâm lí.
Như tôi thấy, đàn bà dùng đồng hồ đeo tay, nhưng chúng là đồ trang sức. Tôi
không thấy rằng họ thực sự dùng chúng, đặc biệt không dùng ở Ấn Độ. Tôi đã bắt
gặp vài đàn bà không biết cách đọc thời gian, và họ có đồng hồ đeo tay, đồng hồ
vàng đẹp - họ có thể đảm đương được chúng.
Đứa trẻ
sống trong thế giới khác toàn bộ. Đứa trẻ có thời gian tâm lí riêng của nó,
hoàn toàn không vội vàng, gần như trong mơ. Nó không thể hiểu được bạn, bạn
không thể hiểu được nó. Bạn tách rời ra, không có cách nào để bắc cầu. Khi một
người già nói chuyện với đứa trẻ, ông ấy nói từ hành tinh khác, điều đó chẳng
bao giờ đạt tới đứa trẻ. Đứa trẻ không thể thấy được tại sao có nhiều vội vàng
thế, để làm gì?
Thời
gian tâm lí là tuyệt đối cá thể. Đó là lí do tại sao thời gian lịch biểu đã trở
thành quan trọng, bằng không gặp gỡ ở đâu, làm sao vận hành, làm sao hiệu quả
được? Nếu mọi người tới văn phòng theo cảm giác riêng của mình, thế thì không
thể nào quản lí được văn phòng. Nếu mọi người tới nhà ga theo giờ riêng của
mình, thế thì tầu hoả không bao giờ rời ga được. Cái gì đó tuỳ tiện phải được cố
định lại.
Thời
gian lịch biểu là lịch sử, và thời gian tâm lí là huyền thoại. Đó là khác biệt
giữa lịch sử và huyền thoại. Ở phương Tây lịch sử được viết ra, ở phương Đông
thì huyền thoại được viết. Nếu bạn hỏi khi nào Krishna được sinh ra, ngày tháng
đích xác, không câu trả lời nào sẽ tới từ bất kì đâu. Và dễ dàng cho nhà lịch sử
chứng minh rằng nếu bạn không thể chứng minh được vào ngày tháng nào, vào giờ
nào về lịch biểu, Krishna đã được sinh ra, tại chỗ nào - nếu bạn không thể chỉ
ra được không gian và thời gian khi nào biến cố về việc sinh của Krishna xảy ra
- thế thì điều đáng hoài nghi là liệu Krishna đã bao giờ được sinh ra hay
không.
Phương
Đông chưa bao giờ bận tâm. Phương Đông đơn giản cười vào toàn thể cái ngớ ngẩn
của nó. Thời gian lịch biểu liên quan gì tới việc sinh của Krishna? Chúng ta
không có bản ghi nào. Hay chúng ta có nhiều bản ghi, mâu thuẫn, mâu thuẫn lẫn
nhau.
Nhưng
xem đấy, tôi đã được sinh ra vào ngày 11 tháng 12. Nếu điều có thể được chứng
minh rằng tôi đã không được sinh ra vào ngày 11 tháng 12, liệu nó sẽ là đủ bằng
chứng rằng tôi chưa bao giờ được sinh ra không?
Ở
phương Đông không ai nhớ ngày sinh riêng của mình. Mới hôm nọ Vivek đã lo nghĩ
về ngày sinh của bố cô ấy. Có thể đó là hai mươi bẩy, hay ngày tháng khác, và
cô ấy lo nghĩ rằng nếu cô ấy viết thư và hỏi, thế thì họ sẽ cảm thấy bị xúc phạm.
Và tôi bảo cô ấy tôi không biết ngày sinh của mẹ tôi, ngày sinh của bố tôi, và
tôi thậm chí không biết liệu họ có biết nó hay không. Nhưng điều đó không thể
chứng minh được rằng họ chưa bao giờ tồn tại hay họ không có đó.
Phương
Đông đã viết ra huyền thoại. Huyền thoại là khác toàn bộ, nó là cùng với thời
gian tâm lí.
Thời
gian lịch biểu di chuyển tuyến tính, theo đường thẳng. Đó là lí do tại sao ở
phương Tây họ nói không có gì mới dưới mặt trời - nhưng lịch sử chưa bao giờ lặp
lại bản thân nó. Thời gian đi theo đường thẳng, cho nên làm sao lịch sử có thể
lặp lại trên đường thẳng được? Từng biến cố dường như là duy nhất. Ở phương
Đông chúng ta nói lịch sử là cái bánh xe. Nó không di chuyển tuyến tính, chuyển
động là theo vòng tròn. Và ở phương Đông chúng ta nói không có gì mới dưới mặt
trời và lịch sử liên tục lặp lại bản thân nó. Nó toàn là lặp lại, cho nên sao
lo nghĩ về khi nào Krishna được sinh ra?
Ở
phương Đông chúng ta nói rằng trong mỗi thời đại Krishna lại được sinh ra lặp
đi lặp lại mãi. Nó là cái bánh xe. Trong từng thời kì giữa sáng tạo và phá huỷ,
Krishna được sinh ra lặp đi lặp lại. Hình dạng của ông ấy có thể khác, tên ông ấy
có thể khác, nhưng ông ấy được sinh ra lặp đi lặp lại; cho nên sao bận tâm? Cứ
mô tả ông ấy là ai và đừng lo lắng quá nhiều về những chi tiết không bản chất.
Cho nên nó có thể là thân hình của Krishna có thể không thuộc vào bất kì
Krishna nào nói riêng. Nó có thể chỉ là sự tổng hợp của mọi Krishna. Đó là cách
nó vậy.
Nếu bạn
hỏi, "Tượng Phật có đúng với hình ảnh của ông ấy không?" - nó không
đúng đâu. Vậy mà nó vẫn đúng bởi vì vị phật phải giống như điều đó. Vấn đề
không phải là liệu Phật này - Gautam Siddhartha, con của Shuddhodhana, được
sinh ra ở Kapilvastu vào một ngày đặc biệt - có giống với tượng này không.
Không, đó không phải là vấn đề. Nhưng mọi chư phật bao giờ cũng được tổng hợp
vào trong tượng này. Họ đại diện. Tượng này chỉ là tượng về phật tính, không phải
về bất kì vị phật nào nói riêng. Mọi chư phật đều được bao hàm trong nó.
Bây giờ
điều này là khó cho phương Tây. Bạn không thể làm ra bất kì khác biệt nào giữa
Phật và Mahavira ngoại trừ kí hiệu nhỏ bên dưới gần chân họ; bằng không bạn
không thể biết được khác biệt gì mấy. Người Jaina có hai mươi bốn tirthankeras,
hai mươi bốn thầy vĩ đại, nhưng bạn không thể biết được sự phân biệt nào. Vào đền
Jaina và nhìn mà xem, tất cả họ đều hệt nhau. Không thể nào có chuyện hai mươi
bốn người tất cả đều như nhau. Không thể được. Hai người không bao giờ giống
nhau, nhưng những tượng đó không đại diện cho cái bên ngoài. Họ đại diện cho
kinh nghiệm bên trong. Vâng, hai người không thể giống nhau được, nhưng hai
kinh nghiệm có thể giống nhau.
Khi bạn
rơi vào tình yêu và ai đó khác rơi vào tình yêu, tình yêu là như nhau. Khi bạn
thiền, ai đó khác thiền, thiền là như nhau. Khi bạn trở nên chứng ngộ và ai đó
khác trở nên chứng ngộ, chứng ngộ là như nhau. Trạng thái hai mươi bốn người
này của các thầy Jaina không phải là hai mươi bốn người mà là một trạng thái được
phản ánh trong hai mươi bốn nhân cách. Tất cả chúng đều là đại diện.
Nếu bạn
nhìn các tirthankera của người Jaina, bạn sẽ thấy tai rất dài, gần chạm vai.
Bây giờ người Jaina nói rằng mọi tirthankera đều có tai rất dài. Và có những
người ngu nghĩ dường như Mahavira thực sự có tai dài thế.
Tôi được
một người Jaina, Acharya Tulsi, mời tới một trong các cuộc hội nghị của ông ấy.
Ông ấy có tai rất dài, cho nên một trong các đệ tử của ông ấy tới tôi và anh ta
nói, "Xem đấy, Acharya Tulsiji Maharaj, tai ông ấy dài làm sao. Đó là biểu
tượng của việc là thầy lớn. Chẳng mấy chốc, trong một trong các kiếp của ông ấy,
ông ấy sẽ trở thành một tirthankera." Chỉ bởi trùng hợp ngẫu nhiên, hay bởi
tính đồng bộ, một con lừa đi qua, cho nên tôi bảo đệ tử đó, "Nhìn Acharya
Lừa Maharaj này. Ông ấy đã là một tirthankera!" Đệ tử này giận và từ đó trở
đi anh ta không bao giờ tới tôi nữa.
Tai dài
chỉ là biểu tượng rằng những người này có năng lực nghe, có vậy thôi. Họ có khả
năng nghe âm than, âm thanh vô âm, tiếng vỗ tay của một bàn tay. Họ có khả năng
nghe chân lí. Những bức tượng này chỉ là biểu tượng, không phải là họ thực tế
là đại diện cho người thực nào đó. Diễn giải sai là ngu xuẩn, nhưng đó là cách
nó diễn ra. Huyền thoại là biểu tượng.
Tương
truyền Ram được sinh ra ở Ayodhya. Bây giờ ayodhya là một trạng thái của an
bình bên trong, nó chẳng liên quan gì tới thị trấn mang tên Ayodhya. Thị trấn
này được mang tên như một đại diện của trạng thái bên trong về ayodhya, một trạng
thái rất an bình, im lặng, phúc lạc. Tất nhiên Ram phải được sinh ra từ đó.
Đó là
nghĩa của việc sinh của Jesus - từ linh hồn đồng trinh. Không phải thực tế ông ấy
đã được sinh ra từ Mary đồng trinh đâu, không; nhưng từ tính trinh nguyên, từ sự
thuần khiết, hồn nhiên, thuần khiết không bị biến chất của bản thể mà ông ấy được
sinh ra. Đó là bụng mẹ thực của ông ấy.
Đây là
biểu tượng, đây là huyền thoại. Chúng không phải là lịch biểu.
Các nhà
lịch sử cứ thu thập những chi tiết không cần thiết, rác rưởi. Bạn nhìn vào
trong sách sử mà xem. Bạn sẽ ngạc nhiên. Tại sao có nhiều người làm những việc
ngu xuẩn thế? Ngày tháng và ngày tháng và ngày tháng và tên và tên và tên, và
chúng cứ tiếp diễn mãi. Và hàng nghìn người phí hoài toàn thể kiếp sống của họ,
và họ gọi nó là nghiên cứu. Thế rồi có các nhà báo, biên tập viên, dân báo chí;
họ là người lịch biểu. Họ cứ đi tìm những chi tiết không cần thiết trong thế giới,
tìm tin tức.
Chân lí
chưa bao giờ là tin tức, bởi vì nó bao giờ cũng có đó. Nó không xảy ra; nó đã xảy
ra rồi. Phi chân lí là tin tức.
Ai đó hỏi
George Bernard Shaw, "Tin tức là gì?" Ông ấy nói, "Khi chó cắn
người đấy không phải là tin tức, nhưn khi người cắn chó đấy là tin tức." Bởi
vì tin tức phải là cái gì đó mới. Chó cắn người không phải là tin tức vì nó
không mới. Nó bao giờ cũng vậy rồi và nó bao giờ cũng vậy. Nhưng khi người cắn
chó, chắc chắn đó là tin tức.
Bạn sẽ
không tìm ra những người hời hợt và vô tích sự hơn là nhà báo. Họ có mẹo để tìm
ra những thứ vô dụng. Nhà báo là chính khách bất lực. Chính khách làm ra tin tức;
nhà báo thu thập tin tức. Nhà báo giống như cái bóng của chính khách. Đó là lí
do tại sao báo chí đầy những chính khách; từ đầu này tới đầu nọ, từ bắt đầu tới
kết thúc, chỉ là chính trị, chính trị, chính trị. Nhà báo là người đã không làm
ra tin tức, bây giờ người đó đi thu thập nó. Mối quan hệ của người đó với chính
khách là đích xác hệt như mối quan hệ của nhà phê bình với nhà thơ: người đã
không trở thành nhà thơ, người đó trở thành nhà phê bình.
Tôi đã
nghe về một diễn viên nổi tiếng. Trong một phim nào đó anh ta cần ngựa, và người
chủ ngựa mang ngựa của ông ấy tới. Đó là con ngựa thường, nhưng người chủ bắt đầu
tán dương con ngựa này rất cao, và ông ta nói, "Đây không phải là ngựa thường
đâu. Đừng nhìn mặt bắt hình dong, nhìn vào linh hồn nó ấy. Nó là con ngựa rất
vĩ đại, và nó đã làm việc trong nhiều phim tới mức anh gần như có thể gọi nó là
diễn viên."
Ngay
vào khoảnh khắc đó, con ngựa đánh cái rắm, rõ dài và to.
Diễn
viên này nói, "Tôi có thể thấy. Nó không chỉ là diễn viên đâu, nó là nhà
phê bình nữa."
Nhà
báo, nhà phê bình, nhà lịch sử, chính khách, tất cả họ đều treo cùng thời gian
lịch biểu, với chính ngoại vi của cuộc sống, nỗ lực vô tích sự nhất và vô dụng
nhất vẫn diễn ra trên thế giới - và và đã trở thành quan trọng thế. Chúng ta đã
làm cho nó thành quan trọng thế bởi vì chúng ta đã quên mất rằng đồng hồ không
phải là cuộc sống.
Thời
gian tâm lí là thời gian mơ. Huyền thoại, thơ ca, nghệ thuật, hội hoạ, nhảy
múa, âm nhạc, trực giác, tất cả chúng đều thuộc vào thời gian tâm lí. Bạn phải
chuyển tới thời gian tâm lí. Thời gian lịch biểu là dành cho tâm trí hướng ngoại.
Thời gian tâm lí dành cho người hướng nội, người đã bắt đầu đi tới linh hồn bên
trong của mình.
Có nguy
hiểm trong thời gian tâm lí nữa. Đó là lí do tại sao những người bị ám ảnh bởi
thời gian lịch biểu chống lại thời gian tâm lí. Có nguy hiểm. Có nguy hiểm bạn
có thể bị mắc bẫy trong nó. Thế thì bạn sẽ trở thành gần như mất trí bởi vì bạn
sẽ mất tiếp xúc với thế giới, với mọi người, với xã hội. Để tôi kể cho bạn vài
giai thoại.
Một người
có vẻ không làm mất lòng ai đang bận rộn nói chuyện với người bạn cũ của mình
và hoàn toàn quên mất thời gian. Đột nhiên anh ta nhìn vào đồng hồ và nói,
"Ồ, bạn thân, ba giờ mất rồi, và tớ có cuộc hẹn với nhà tâm thần vào ba giờ
và phải mất ít nhất mười lăm phút để đi tới đó."
Bạn anh
ta nói, "Coi chuyện là dễ dàng đi. Anh sẽ chỉ muộn vài phút thôi."
"Anh
không biết ông ta. Nếu tôi không có đó đúng giờ anh ta sẽ bắt đầu mà không có
tôi."
Có nguy
hiểm về việc coi mơ là thực. Có nguy hiểm của việc tin vào tưởng tượng của bạn
quá nhiều. Bạn có thể trở nên bị ám ảnh với bay bổng bên trong của bạn, thế giới
mơ, tới mức bạn có thể sống trong sương mù. Nhưng ngay cả với nguy hiểm đó điều
quan trọng là hiểu nó và trải qua nó. Nhưng nhớ, nó là chiếc cầu để được đi
qua. Khi bạn đã qua nó, bạn sẽ bắt gặp thời gian thực.
Thời
gian lịch biểu tương ứng với thân thể, thời gian tâm lí tương ứng với tâm trí,
thời gian thực tương ứng với bản thể của bạn. Thời gian lịch biểu là tâm trí hướng
ngoại, thời gian tâm lí là tâm trí hướng nội, và thời gian thực là vô trí.
Nhưng
người ta phải trải qua thời gian tâm lí. Lãnh thổ đó phải được đi qua, tỉnh táo
đầy đủ. Bạn phải không làm chỗ trú ẩn của mình ở đó. Nó là chiếc cầu cần được
đi qua, bạn phải không làm chỗ trú ngụ ở đó. Nếu bạn làm chỗ trú ngụ ở đó, bạn
trở thành điên. Đó là điều đã xảy ra cho nhiều người, những người ở nhà thương
điên. Họ đã quên thời gian lịch biểu, họ đã không đạt tới thời gian thực, và họ
đã bắt đầu sống trên cầu, thời gian tâm lí. Đó là lí do tại sao thực tại của họ
đã trở thành cá thể và riêng tư. Người điên sống trong thế giới riêng tư, và
người bạn gọi là lành mạnh sống trong thế giới công cộng. Từ công cộng là dành
cho ở cùng mọi người, thế giới riêng tư chỉ được giới hạn cho bản thân bạn;
nhưng thế giới thực không công cộng không riêng tư. Nó là phổ dụng, nó ở bên
ngoài cả hai. Và người ta phải đi ra ngoài cả hai.
Một người
nổi danh là lái xe bạt mạng. Anh ta nằm trong giường bệnh viện sau một tai nạn.
Bác sĩ
hỏi y tá, "Sáng nay anh ta thế nào?"
Cô ấy
nói, "Ồ, anh ta cứ để tay phải chìa ra."
"À,"
bác sĩ nói, "anh ta xin rẽ phải đấy mà."
Người
lái xe bạt mạng, người nghiện xe ô tô ngay cả trong giấc ngủ vẫn cứ lái xe
nhanh. Bất kì cái gì bạn làm trong mơ đều phản ánh ham muốn của bạn, mục đích của
bạn, điều bạn muốn có.
Các xã
hội nguyên thuỷ sống trong thời gian tâm lí. Phương Đông đã sống trong thời
gian tâm lí; phương Tây sống trong thời gian lịch biểu. Nếu bạn đi xa hơn vào
trong các xã hội nguyên thuỷ ẩn đằng sau núi và rừng, sâu thẳm, bạn sẽ thấy họ
sống tuyệt đối trong thời gian tâm lí. Có vài xã hội nguyên thuỷ trong đó mơ là
quan trọng hơn thực tại, và điều đầu tiên đứa trẻ phải làm trước bữa sáng là kể
lại giấc mơ của nó cho người lớn. Điều đầu tiên là phân tâm. Giấc mơ phải được
kể lại cho người lớn trước bữa sáng, và tất cả họ tụ tập lại cùng nhau và họ
phân tích giấc mơ đó. Và thế rồi họ bảo đứa trẻ làm cái gì đó, bởi vì mơ là biểu
tượng và nó chỉ ra rằng cái gì đó cần được làm.
Chẳng hạn,
một đứa trẻ mơ rằng nó đã đánh nhau với người bạn, và đến sáng nó kể lai giấc
mơ cho những người lớn tuổi hơn. Họ sẽ diễn giải điều đó, và họ sẽ phái đứa trẻ
mang quà và kẹo và đồ chơi sang nhà người kia, cho đứa trẻ con kia, tặng cho nó
quà, và kể lại cho nó giấc mơ. Bởi vì nó đã phạm tội.
Ở
phương Đông bạn không thể quan niệm được điều đó. Bạn có làm gì đâu? Bạn đã
không làm cái gì cả, ban đơn giản chỉ mơ, nhưng xã hội nguyên thuỷ đặc thù đó
nói rằng bạn mơ điều đó bởi vì bạn muốn làm cái gì đó giống điều đó, bằng không
thì tại sao? Nó phải là ham muốn, ẩn kín, bị kìm nén. Khi có liên quan tới tâm
trí, bạn đã phạm vào điều đó. Đi và nói cho đứa trẻ kia để cho không giận dữ
tinh vi nào còn tiếp tục bao quanh bạn. Kể toàn bộ vấn đề và xin tha thứ và tặng
quà này cho đứa trẻ kia.
Quà thực
dành cho đánh nhau mơ... nhưng phép màu đã xảy ra cho xã hội đó. Dần dần đứa trẻ
lớn lên, nó thôi mơ. Mơ biến mất. Người lớn, theo xã hội nguyên thuỷ đó, là người
không mơ. Điều này dường như là hay. Tất nhiên xã hội đó sẽ không được các nhà
phân tâm đánh giá cao vì toàn thể nghề nghiệp của họ sẽ tiêu.
Cô gái
trẻ đi tới nhà tâm thần và ông ta hỏi cô ấy đã mơ gì đêm hôm trước. Cô ấy bảo
ông ta rằng cô ấy chẳng mơ gì cả đêm, thế là ông ấy trở nên rất bực mình và
nói, "Này, nếu cô không làm bài tập ở nhà làm sao tôi có thể giúp cô được?"
Việc mơ
là bài tập về nhà, và nhà phân tâm sống từ giấc mơ của bạn. Ông ấy cứ phân tích
chúng. Nhưng điều này là cái gì đó ngớ ngẩn. Bạn không thể phân tích giấc mơ
riêng của bạn được, làm sao ai đó khác làm được điều đó? Bởi vì thời gian tâm
lí có tính cá thể, không ai có thể hiểu được hơn bạn về bản thân bạn. Mơ của bạn,
làm sao ai đó khác có thể hiểu được chúng? Diễn giải của người đó sẽ là xuyên tạc.
Diễn giả của người đó sẽ là diễn giải của người đó thôi. Khi một Freud phân
tích giấc mơ của bạn, diễn giải của ông ấy sẽ khác. Khi Jung phân tích cùng giấc
mơ đó, diễn giải của ông ấy là khác. Khi Adler phân tích cùng giấc mơ đó, diễn
giải của ông ấy lại khác. Cho nên phải nghĩ gì về điều đó? Bạn đã mơ một giấc
mơ và ba nhà phân tâm lớn diễn giải nó theo ba cách khác nhau.
Freud
qui mọi thứ về dục. Bất kì cái gì bạn mơ cũng chẳng tạo ra khác biệt gì. Ông ấy
sẽ thấy ra cách thức và thu nó về dục. Dường như ông ấy bị ám ảnh với dục. Ông ấy
là nhà tiên phong lớn, ông ấy đã mở cánh cửa lớn, nhưng ông ấy bị ám ảnh và ông
ấy sợ dục, và ông ấy sợ các thứ khác nữa. Ông ấy bị ám ảnh tới mức ông ấy không
thể đi qua đường được, đó là một trong những nỗi sợ lớn của ông ấy. Bây giờ bạn
không thể nghĩ được Phật lại sợ về việc đi qua đường. Bản thân người này là ốm
yếu. Ông ấy sợ thế với việc nói chuyện với mọi người, đó là lí do tại sao ông ấy
đã tạo ra phân tâm học. Trong việc làm phân tâm, nhà phân tâm ngồi đằng sau tấm
rèm và bệnh nhân nằm trên tràng kỉ và cứ nói và nhà phân tâm đơn giản lắng nghe
- không có trao đổi. Ông ấy sợ trao đổi. Trong đương đầu giữa các cá nhân, người
với người, ông ấy bao giờ cũng vụng về. Bây giờ toàn thể tâm trí ông ấy đã đi
vào trong diễn giải của ông ấy. Điều đó là tự nhiên, đó là cách nó phải vậy.
Jung
đem mọi thứ về tôn giáo, mọi thứ. Bất kì cái gì bạn mơ, ông ấy sẽ diễn giải
theo cách mà nó trở thành giấc mơ tôn giáo. Cùng giấc mơ đó trở thành dục với
Freud; với Jung nó trở thành tôn giáo. Với Adler nó trở thành chính trị. Mọi thứ
đều là tham vọng, và mọi người đang khổ với phức cảm thấp kém, và mọi người
đang cố thu lấy nhiều quyền lực hơn - "ý chí quyền lực." Và bây giờ
có cả nghìn lẻ một nhà phân tâm trên khắp thế giới, với các loại hạng khác
nhau. Các loại hạng cũng như có nhiều giáo phái trong Ki tô giáo. Nhiều trường
phái thế, và mọi nhà phân tâm đều bắt đầu trường phái riêng của mình. Và không
ai bận tâm với bệnh nhân, rằng đó là giấc mơ của người đó.
Vấn đề
của nhà phân tâm là đi vào trong phân tích, diễn giải của họ. Đây không phải là
cách giúp đỡ. Thực ra nó sẽ làm cho mọi sự phức tạp hơn. Một xã hội tốt hơn sẽ
dạy bạn cách phân tích giấc mơ riêng của bạn, cách phân tâm giấc mơ riêng của bạn.
Không ai có thể chắc chắn hơn bạn bởi vì không ai có thể gần hơn, duy nhất bạn.
Một bà
trẻ đẹp đi tới gặp nhà tâm thần. Bác sĩ nhìn bà ta vài giây và rồi nói,
"Xin mời tới đây." Thế rồi ông ta mau lẹ đưa tay ôm quanh bà ta và
hôn bà ta. Khi cuối cùng ông ta thả bà ấy ra, ông ta bình luận một cách bình
thường, "Điều đó giải toả vấn đề của tôi. Bây giờ vấn đề của bà là
gì?"
Họ có vấn
đề của họ. Họ có tâm trí của họ, những ám ảnh.
Ở
phương Đông chưa bao giờ tồn tại cái gì như nhà phân tâm cả. Không phải là
chúng ta không nhận biết về thế giới tâm lí. Chúng ta đã nhận biết sâu hơn bất
kì xã hội nào đã từng nhận biết, nhưng chúng ta đã tạo ra một kiểu người khác
toàn bộ để giúp đỡ. Chúng ta gọi người đó là guru, thầy. Khác biệt gì giữa một
guru và một nhà phân tâm? Khác biệt là ở chỗ nhà phân tâm vẫn có vấn đề của ông
ấy, không được giải quyết, và guru không có vấn đề gì. Khi bạn không có bất kì
vấn đề gì, thế thì cách nhìn của bạn là rõ ràng. Thế thì bạn có thể để bản thân
bạn vào tình huống của người khác. Khi bạn không có bất kì vấn đề nào, bất kì
ám ảnh nào, bất kì phức tạp nào, không cái gì - bạn làm sạch sẽ hoàn toàn tâm
trí, tâm trí đã biến mất và bạn đã đạt tới vô trí - thế thì, thế thì bạn có thể
thấy. Thế thì bạn sẽ không diễn giải theo cách cá nhân. Diễn giải của bạn sẽ là
phổ quát, sẽ trở thành có tính tồn tại.
Và cái
thứ ba là thời gian thực, tính tồn tại. Thời gian thực không phải là thời gian
chút nào, bởi vì thời gian thực là vĩnh hằng. Để tôi giải thích nó cho bạn.
Thời
gian lịch biểu là tuỳ tiện. Ở phương Tây Zeno đã chứng minh nó từ lâu trước
đây. Ở phương Đông Nagarjuna đã chứng minh nó sâu sắc tới mức ông ấy chưa bao
giờ bị bác bẻ. Thực ra Zeno và Nagarjuna, hai người, vẫn còn là không thẻ bác bẻ
được. Không ai có thể bác bẻ được họ, luận cứ của họ là sâu sắc và tuyệt đối.
Zeno và Nagarjuna nói rằng toàn thể khái niệm về thời gian, thời gian lịch biểu,
là ngớ ngẩn. Để tôi nói với bạn đôi điều về hai người này và phân tích của họ về
thời gian lịch biểu.
Họ đã đạt
tới đỉnh cao nhất của phân tích thời gian. Không ai đã bao giờ có khả năng vượt
qua họ hay cải tiến họ. Họ nói, "Thời gian là gì?" Bạn nói, "Nó
là quá trình. Khoảnh khắc này đi vào quá khứ, biến mất; khoảnh khắc khác đi từ
tương lai vào hiện tại; vẫn còn đó trên ngưỡng trong một chốc; thế rồi lại chuyển
vào trong quá khứ, biến mất." Đây là quá trình thời gian. Bạn chỉ có một
khoảnh khắc mỗi lúc, chưa bao giờ có hai khoảnh khắc cùng nhau. Quá khứ, tương
lai, và chính giữa hai điều này, cái ngưỡng, là hiện tại.
Bây giờ
Nagarjuna và Zeno nói, "Khoảnh khắc tới từ đâu? Tương lai có tồn tại
không? Nếu nó không tồn tại, thế thì làm sao khoảnh khắc này có thể đi ra từ
cái không tồn tại được?" Bây giờ họ tạo ra rắc rối. Họ nói, "Khoảnh
khắc hiện tại đi đâu vào trong quá khứ? Nó có còn được tích luỹ lại trong quá
khứ không?" Nếu bạn nói nó vẫn còn trong quá khứ, thế thì nó chưa trở
thành quá khứ rồi. Nếu bạn nói nó có đó trong tương lai và chỉ bây giờ nó mới
được lộ ra cho chúng ta, nó bao giờ cũng có đó trong tương lai; thế thì,
Nagarjuna và Zeno nói, thế thì bạn không thể gọi nó là tương lai được; nó bao
giờ cũng là hiện tại. Nếu tương lai có, thế thì tương lai không có; bởi vì
tương lai nghĩa là cái còn chưa có. Nếu quá khứ có, thế thì quá khứ không có; bởi
vì quá khứ nghĩa là cái đã đi ra khỏi sự tồn tại.
Cho nên
bất kì phương án nào bạn chọn... Nếu bạn nói tương lai không có và đột nhiên từ
trời xanh khoảnh khắc hiện tại xuất hiện, họ cả hai cùng cười. Họ nói,
"Anh đang nói điều vô nghĩa. Làm sao cái không tồn tại có thể tới từ cái tồn
tại được? Và làm sao cái tồn tại có thể đi vào trong cái không tồn tại lần nữa
được?" Họ nói, "Nếu có cái không tồn tại ở cả hai phía, thế thì ở
ngay chính giữa, làm sao cái tồn tại có thể hiện hữu được? Nó cũng phải là
không tồn tại chứ. Anh bị lừa rồi."
Thế rồi
họ nói, "Anh coi thời gian là quá trình sao? Anh nói khoảnh khắc này được
nối với khoảnh khắc khác sao?" Nagarjuna và Zeno hỏi bạn, "Có hai khoảnh
khắc; chúng được quan hệ thế nào? Có khoảnh khắc thứ ba giữa hai khoảnh khắc
cái làm quan hệ cho chúng không?" Lần nữa họ tạo ra khó khăn bởi vì, để
quan hệ, móc nối được cần. Để đặt quan hệ hai thứ, để đặt quan hệ quá khứ với
hiện tại và hiện tại với tương lai, móc nối được cần. Thế thì các móc nối đó tồn
tại ở đâu? Các móc nối đó là gì? Chúng chỉ có thể là thời gian. Cho nên giữa
khoảnh khắc này và khoảnh khắc khác lại có một khoảnh khắc khác để nối hai khoảnh
khắc này. Cho nên thay vì hai có ba, nhưng lần nữa chúng sẽ phải được nối lại.
Hồi qui vô hạn nảy sinh.
Nhìn
hai ngón tay tôi. Hai ngón này được cần để được nối lại; chúng trở thành ba
ngón. Bây giờ có hai lỗ hổng thay vì một, hai chỗ để trắng. Chúng phải được nối
lại; chúng trở thành năm. Bây giờ nhiều lỗ hổng hơn được nối lại, và cứ thế
mãi.
Thời
gian lịch biểu, Nagarjuna và Zeno nói, là tiện dụng. Nó không bản chất. Thời
gian thực không phải là quá trình, bởi vì, Nagarjuna nói, nếu bản thân thời
gian là quá trình, thế thì nó sẽ cần thời gian khác. Chẳng hạn, bạn bước đi. Bạn
cần thời gian. Bạn đã tới tôi, tới Thính phòng Trang Tử này từ nhà bạn. Phải mất
mười lăm phút cho bạn tới đây. Nếu không có thời gian, làm sao bạn sẽ tới đây
được, vì bước đi cần thời gian chứ? Bước đi là quá trình, bạn cần thời gian. Mọi
quá trình đều cần thời gian. Bây giờ Nagarjuna nói, "Nếu ông nói thời gian
bản thân nó là quá trình, nó sẽ cần thời gian khác, siêu thời gian. Và điều đó
nữa là quá trình. Thế thì siêu-siêu thời gian..." Lại hồi qui vô hạn nay
sinh. Thế thì bạn không thể giải quyết được nó.
Không,
thời gian - thời gian thực - không phải là quá trình. Nó là sự đồng thời. Tương
lai, quá khứ, hiện tại không phải là ba thứ tách rời; cho nên không có nhu cầu
nối chúng lại. Nó là vĩnh hằng bây giờ, nó là vĩnh hằng. Không phải là thời
gian đang trôi qua, trôi qua bên cạnh bạn đâu. Nó sẽ đi đâu? Nó sẽ cần phương
tiện khác để đi qua, và nó sẽ đi đâu và nó sẽ tới từ đâu? Nó có đó, hay đúng
hơn nó là ở đây. Thời gian hiện hữu. Nó không phải là quá trình.
Bởi vì
chúng ta không thể thấy được thời gian toàn bộ - mắt chúng ta bị hạn chế, bị giới
hạn, chúng ta nhìn ra từ kẽ hở nhỏ - đó là lí do tại sao dường như bạn chỉ có
thể thấy một khoảnh khắc mỗi lúc. Nó là giới hạn của bạn, không phải là sự phân
chia thời gian. Bởi vì bạn không thể thấy được toàn thể thời gian như nó vậy -
bởi vì bạn chưa là toàn thể - đó là lí do tại sao. Bây giờ tới lời kinh.
Thực hiện
samyama trên khoảnh khắc hiện tại, khoảng khắc này qua đi, và khoảnh khắc này tới
đem theo tri thức được sinh ra từ nhận biết về thực tại tối thượng.
Nếu bạn
mang tâm thức samadhi của bạn tới quá trình thời gian - tới khoảnh khắc đang đấy,
tới khoảnh khắc đã qua, tới khoảnh khắc sắp tới - nếu bạn mang samadhi của bạn
vào, đột nhiên, tri thức về thực tại tối thượng, bởi vì khoảnh khắc bạn nhìn bằng
samadhi phân biệt giữa hiện tại, tương lai và quá khứ biến mất. Chúng tan biến.
Phân biệt này là giả. Đột nhiên bạn trở nên nhận biết về cái vĩnh hằng. Thế thì
thời gian là đồng thời. Không cái gì trôi qua, không cái gì sắp tới, mọi thứ đều
hiện hữu, đơn giản hiện hữu.
Tính
đây được biết tới là Thượng đế, tính đây là ý tưởng về Thượng đế.
"Thực
hiện samyama trên khoảnh khắc hiện tại, khoảng khắc này qua đi, và khoảnh khắc
này tới đem theo tri thức được sinh ra từ nhận biết về thực tại tối thượng."
Nếu bạn có thể thấy được thời gian qua con mắt của tỏ ngộ satori, samadhi, thời
gian biến mất.
Nhưng
đây là phép màu cuối cùng, sau nó chỉ có kaivalya, giải thoát. Khi thời gian biến
mất, mọi thứ đều biến mất bởi vì toàn thể thế giới của ham muốn, tham vọng, động
cơ có đó bởi vì quan niệm sai về thời gian. Thời gian được tạo ra; thời gian
như quá trình - quá khứ, hiện tại, tương lai - được tạo ra bởi việc ham muốn.
Đây là một trong những sáng suốt lớn lao nhất của các hiền nhân phương Đông: rằng
thời gian, quá trình, thực sự là phóng chiếu của ham muốn. Bởi vì bạn ham muốn
cái gì đó, bạn tạo ra tương lai. Và bởi vì bạn níu bám, bạn tạo ra quá khứ. Bởi
vì bạn không thể bỏ cái không còn nữa trước bạn, và bạn muốn níu bám nó, bạn tạo
ra kí ức. Và bởi vì cái mà chưa có, bạn mong đợi nó theo cách riêng của bạn, bạn
tạo ra tương lai. Tương lai và quá khứ là trạng thái tâm trí, không phải là một
phần của thời gian. Thời gian là vĩnh hằng. Nó không bị phân chia. Nó là một,
toàn thể.
"Kshana-tat-kramayoh
samyamad vivekajam gyanam." Người đã đi tới biết khoảnh khắc và quá trình
thời gian là gì thì trở nên nhận biết về điều tối thượng; trở nên nhận biết về
thời gian, người ta trở nên nhận biết về điều tối thượng. Tại sao? Bởi vì điều
tối thượng tồn tại như thời gian thực.
Bạn sống
trong thời gian lịch biểu, thế thì bạn sống trong thế giới báo chí. Thế thì bạn
sống trong thế giới của các chính khách, người điên, người tham vọng. Hay nếu bạn
sống trong thời gian tâm lí, bạn sống trong thế giới của người điên, người mất
trí, của thế giới hư cấu, mơ, thơ ca.
Một bác
sĩ mới nhìn quanh nhà thương điên. Ông ấy bắt gặp một người bị giam và nói với
người đó, "Anh là ai?"
Người
này ưỡn mình lên cao hết chiều cao và nói, "Tôi, thưa ngài, là
Napoleon." Bác sĩ nói, "Thật thế à? Ai bảo anh điều đó?" Bệnh
nhân nói, "Thượng đế bảo tôi, còn ai khác được?"
Một người
nhỏ bé nằm giường bên nhìn qua và nói, "Ta không bảo."
Vào nhà
thương điên đi, chỗ đó đáng tới thăm. Chỉ nhìn mọi người. Họ đang sống trong thế
giới hư cấu. Họ đã hoàn toàn đi ra khỏi thế giới tập thể và họ đã không đi vào
thế giới vũ trụ. Họ treo ở giữa, họ trong tình trạng lấp lửng.
Nhà tâm
thần ngạc nhiên khi thấy bệnh nhân nữ trẻ đứng ngoài văn phòng ông ta trong có
vẻ rất bối rối. Chưa tới nửa giờ từ lúc ông ấy điều trị cho cô ta. Ông ấy nói,
"Có chuyện gì vậy?" Cô ấy nói, "Ôi trời, em không biết em đang
đi vào hay đi ra. Bác sĩ nói, "Đích xác, đó là lí do tại sao cô đã tới gặp
tôi." "Ồ," cô ấy nói, "vậy ông à ai?" "Tôi là nhà
tâm thần tệ hại của cô."
Một thế
giới lấp lửng nảy sinh. Nếu bạn mất tiếp xúc với thế giới lịch biểu và bạn
không trở nên được nối với thế giới phổ quát, điều tối thượng, đột nhiên bạn
không biết liệu bạn đang đi vào hay đang đi ra. Mọi thứ trở thành đáng hoài
nghi, mọi thứ trở thành nghi ngờ. Bạn không thể tin cậy được vào bản thân bạn,
bạn không thể tin cậy được vào mắt bạn, bạn không thể tin cậy được vào bất kì
ai. Bạn bị đóng lại, bị giam lại. Bạn trở thành sinh linh không cửa sổ, một đơn
tử. Đây là điều địa ngục là gì. Bạn không thể đi ra khỏi bản thân bạn được; bạn
bị què. Nhớ lấy, thiền nhân đi một cách có ý thức qua thế giới của người điên -
một cách có ý thức. Và điều tốt là đi qua một cách có ý thức bởi vì nếu bạn
không đi một cách có ý thức thì sẽ có mọi khả năng bạn sẽ trở thành nạn nhân vô
ý thức của nó. Tốt hơn cả là đi qua nó một cách tỉnh táo, nhận biết, thay vì bị
ép buộc vào trong nó. Nếu cuộc sống buộc bạn đi vào trong nó, thế thì bạn sẽ
không có khả năng đi ra khỏi nó. Điều đó sẽ rất, rất khó.
Và nhà
phân tâm chỉ có thể giúp đưa bạn trở lại với thế giới lịch biểu. Đó là khác biệt
giữa thầy và nhà phân tâm. Nhà phân tâm mang người đã bị lạc trong thế giới tâm
lí trở lại với thế giới lịch biểu - qua điều trị gây sốc, sốc điện, sốc insulin
- bởi vì nếu bạn bị sốc rất lớn, đột nhiên mơ của bạn bị tan vỡ. Bạn trở nên tỉnh
táo chút ít, bạn trở lại với thế giới lịch biểu.
Nếu bạn
bị lạc trong thế giới tâm lí, thầy đưa bạn đi lùi thêm, đưa bạn tới thế giới phổ
quát. Bạn sẽ không bao giờ trở thành một phần của thế giới lịch biểu, nhưng bạn
sẽ trở thành một phần của thời gian phổ quát.
Từ điều
này đi tới khả năng phân biệt giữa các đối thể tương tự mà không thể được nhận
diện bởi tầng lớp, tính cách hay nơi chốn.
Một khi
bạn biết tới điều tối thượng, một loại biết khác toàn bộ nảy sinh trong bạn.
Ngay bây giờ bạn chỉ biết các thứ từ bên ngoài. Ai đó tới, bạn nhìn vào quần áo
và bạn nghĩ, "Vâng, cô ấy là đàn bà," hay "đàn ông." Bạn
nhìn cây và bạn nhận ra nó - "Nó là cây thông" - bởi vì bạn biết mô tả.
Bạn nhìn người đàn ông và bạn biết rằng người đó là bác sĩ bởi vì cái ống nghe
của người đó. Nhưng đây là những chỉ dẫn bên ngoài của sự vật. Người đó có thể
không phải là bác sĩ, người đó có thể chỉ là kẻ giả vờ. Và cây thông có thể
không phải là cây thông, nó có thể trông giống cây thông thôi. Và người đàn bà
có thể không là người đàn bà, cô ấy có thể chỉ đóng kịch. Cô ấy có thể là đàn
ông, cô ấy có thể là anh ấy. Bạn không thể tuyệt đối chắc chắn được về điều đó,
bởi vì bạn biết chỉ từ bên ngoài.
Khi thời
gian biến mất và vĩnh hằng bao quanh bạn, khi thời gian không còn là quá trình
mà là vũng năng lượng, vĩnh hằng bây giờ, thế thì bạn trở nên có khả năng đi
vào trong mọi thứ và biết mà không có bất kì định nghĩa nào từ bên ngoài.
Đó là
điều xảy ra giữa thầy và đệ tử. Thầy không cần hỏi bạn, thực sự. Thầy có thể thấy
từ chính bản thể của bạn. Thầy có thể đứng trong bạn - không chỉ trong giầy của
bạn mà trong bản thể bạn. Thầy có thể khớp đích xác trong chân không bên trong
nhất của bạn. Thầy có thể là bạn, và nhìn từ đó.
Tri thức
cao nhất được sinh ra từ nhận biết về thực tại là siêu việt, bao hàm nhận thức
về mọi đối thể đồng thời, gắn liền với mọi đối thể và các quá trình dù là bất
kì cái gì - trong quá khứ, hiện tại và tương lai và siêu việt lên trên thế giới
quá trình.
... Và
siêu việt lên trên thế giới quá trình, và siêu việt trên thế giới của mọi quá
trình.
Tarakam
sarvavishayam sarvathavishayam
Akramam
cheti vivekajam gyanam.
Qua mắt
chúng ta có thể thấy chỉ một phần của thực tại. Bởi vì phần đó, cuộc sống trông
có vẻ như tiến trình. Chẳng hạn, bạn ngồi dưới gốc cây và con đường trống rỗng,
và thế rồi đột nhiên một người xuất hiện trên đường từ bên trái; người đó liên
tục đi sang bên phải, sau khi bước đi một quãng người đó lại biến mất. Ai đó
đang ngồi trên cây. Từ lâu trước khi người này xuất hiện cho bạn, người này đã
xuất hiện cho người ở trên cây. Khi người này biến mất cho bạn, người này không
biến mất cho người đang ngồi trên cây; nhưng sau một thời gian người này biến mất
cả cho người trên cây nữa. Nhưng ai đó ở trên máy bay trực thăng. Bây giờ tầm
nhìn của người đó xa hơn, người này tiếp tục bước - từ lâu trước khi bạn trở
nên nhận biết rằng người này ở trên đường và lâu sau khi người này đã biến mất
với bạn.
Điều gì
đang xảy ra? Đích xác đây là trường hợp với mọi thứ. Bạn lên càng cao, bạn càng
đạt tới gần sahasrar - bạn đang trèo lên cây của cuộc sống. Sahasrar là điểm tối
thượng để nhìn từ đó. Không có chiều cao nào hơn cái đó. Từ sahasrar bạn nhìn
thấy mọi thứ: mọi thứ liên tục diễn ra mãi. Không cái gì dừng lại, không cái gì
biến mất.
Rất
khó, khó như cách giải thích của nhà vật lí về điện tử, lượng tử tối thượng, rằng
nó là cả sóng và hạt, cả điểm và đường.
Bạn
đang bay trong máy bay, qua sông Hằng, và sông Hằng đang tuôn chảy. Nếu tôi hỏi
bạn, "Sông Hằng có là quá trình không? Sông Hằng đang chảy, hay đấy là
sông Hằng đang hiện hữu?" bạn sẽ nói gì? Bạn sẽ nói, "Cả hai." Bạn
sẽ nói, "Sông Hằng hiện hữu," bởi vì bạn có thể thấy được nó từ đầu nọ
tới đầu kia một cách đồng thời. Bạn có thể thấy sông Hằng trên Himalayas, bạn
có thể thấy sông Hằng trên đồng bằng, bạn có thể thấy sông Hằng rơi vào trong đại
dương, đồng thời - quá khứ, hiện tại, tương lai đã biến mất. Toàn thể sông Hằng
là sẵn có cho bạn từ độ cao nào đó. Nó hiện hữu, và vậy mà bạn biết nó đang chảy.
Nó là cả hai vừa hiện hữu và trở thành; nó là cả hai vừa sóng và hạt, chấm và
đường; hiện hữu và dầu vậy vẫn là quá trình.
Điều đó
là ngược đời, nó có vẻ ngược đời, bởi vì chúng ta không biết cách mọi sự xuất
hiện từ chiều cao đó.
Lời
kinh này nói, " Tri thức cao nhất được sinh ra từ nhận biết về thực tại là
siêu việt..." Nó siêu việt lên mọi nhị nguyên, mọi cực của hiện hữu và quá
trình, của tĩnh và động, của sóng và hạt, của sống và chết, của quá khứ và
tương lai - mọi nhị nguyên, mọi cực. Nó là siêu việt. "Tarakam
sarvavishayam" - nó siêu việt lên mọi đối thể của tri thức.
"...
bao hàm nhận thức về mọi đối thể đồng thời..." Và với tâm thức này, từ
"toàn thức" được dùng. Mọi thứ tồn tại cho nó một cách đồng thời. Rất
khó hiểu, gần như không thể nào hiểu thấu được. Nó ngụ ý với con người của hiểu
biết tối thượng, nếu người đó nhìn bạn, người đó sẽ thấy bạn trong khi bạn còn ở
trong bụng của mẹ bạn - đồng thời - và bạn được sinh ra - đồng thời - và bạn
đang lớn và bạn đã trở thành đứa trẻ và bạn đã trở thành thanh niên và bạn đang
cưới người đàn bà và bạn đã rơi vào tình yêu và con bạn được sinh ra và bạn đã
trở thành già và bạn đang chết và mọi người đi trong đám tang - tất cả đều đồng
thời. Cái toàn thể sẽ xuất hiện trong toàn bộ.
Khó hiểu,
bởi vì làm sao điều đó là có thể được? Một đứa trẻ được sinh ra. Làm sao nó có
thể chết ngay khoảnh khắc này được? Nó hoặc là đứa trẻ hoặc thanh niên hoặc người
già, hoặc trong bụng mẹ hoặc trong quan tài, hoặc trong cái nôi hoặc trong nấm
mồ. Nhưng đó là sự phân chia của chúng ta bởi vì chúng ta không thể thấy được một
cách toàn bộ.
Một nhà
khoa học ở nước Nga xô viết đã chụp ảnh nụ hoa với dụng cụ chụp ảnh nhạy cảm,
phim, mà không ai đã từng thử trước đó; và bức ảnh đã cho thấy đoá hoa. Nụ đã
được chụp ảnh, nhưng trong ảnh hoa đã tới. Nó vẫn là nụ. Điều gì đã xảy ra? Bởi
vì nụ cũng là hoa, đồng thời. Bạn không thể thấy được nó bởi vì bạn chỉ thấy
các bộ phận. Đầu tiên bạn thấy nó như nụ, thế rồi vài cánh nở ra, thế rồi thêm
vài cánh nữa, thế rồi thêm vài cánh nữa, thế rồi cả hoa nở ra. Nhưng với máy chụp
ảnh rất nhạy cảm, việc chụp ảnh kiểu Kirlian đã cho cái nhìn sâu sắc vô cùng
vào trong thực tại. Bạn có thể chụp ảnh cái nụ, và ảnh đưa ra đoá hoa. Bởi vì
khi nụ có đó, sâu bên dưới, bao quanh nụ, hoa năng lượng đã nở ra. Cánh hoa thấy
được sẽ theo sau, nhưng trường năng lượng đã nở hoa rồi. Nó có đó. Và về sau,
khi hoa thực đã nở, họ ngạc nhiên thấy rằng ảnh chụp là tuyệt đối chính xác. Họ
có thể so sánh hoa thực về sau.
Ngày
nào đó này khác sẽ có khả năng chụp ảnh hạt mầm, và một bức ảnh sẽ không tới mà
nhiều bức ảnh tới - về hạt mầm, về chồi, về nụ, về hoa, về cây, và việc cây đổ
xuống, và việc biến mất của cây.
"Tarakam...
sarvathavishayam akramam..." Bình thường chúng ta nhìn mọi thứ trong quá
trình dần dần, trong nghiệp, trong quá trình dần dần - đứa trẻ trở thành thanh
niên, thanh niên trở thành người già - dần dần, dường như cuốn phim được chiếu
rất chậm trên màn ảnh. Đó là cách chúng ta nhìn nó. Nhưng tri thức tối thượng
là toàn bộ và tuyệt đối. Trong một khoảnh khắc mọi thứ đều được hiển lộ.
Bình
thường chúng ta đi cùng với một ngọn đuốc nhỏ trong bóng tối. Khi ngọn đuốc chỉ
cho chúng ta một cây, các cây khác ẩn kín trong bóng tối. Khi ngọn đuốc di chuyển
sang cây khác, cây đầu tiên đã chuyển vào trong bóng tối. Bạn có thể thấy chỉ một
khoảnh nhỏ của con đường. Nhưng tri thức tối thượng đó là giống như tia chớp: đột
nhiên bạn thấy toàn thể khu rừng, trong một cái nhìn.
Đây
toàn là biểu tượng. Hmm?... đừng kéo dài và đừng căng những biểu tượng này ra
quá nhiều. Chúng chỉ cho bạn những chỉ dẫn tinh tế về điều xảy ra. Thực ra nó
không thể được nói.
Bây giờ,
thời gian lịch biểu là chính trị, lịch sử, kinh tế, tiền bạc, đồ vật, thị trường,
Phố Wall. Thời gian tâm lí là mơ, huyền thoại, thơ ca, tình yêu, nghệ thuật, trực
giác, hội hoạ, điệu vũ, kịch. Thời gian thực là sự tồn tại, khoa học và tôn
giáo.
Khoa học
đang cố gắng xuyên thấu vào sự tồn tại qua cách tiếp cận đối thể; và tôn giáo cố
gắng xuyên thấu cùng thực tại này qua cách tiếp cận chủ thể; và yoga là tổng hợp
của cả hai.
Từ
"khoa học" là hay; nó có nghĩa là "năng lực để thấy." Nó
đích xác ngụ ý điều từ Ấn Độ darshan ngụ ý. Từ darshan không nên dịch là
"triết học"; nó có thể được dịch chính xác hơn là "khoa học"
- khả năng để thấy.
Khoa học
cố gắng xuyên thấu vào điều tối thượng qua tính khách thể, từ bên ngoài. Tôn
giáo cố gắng xuyên thấu và cùng điều tối thượng qua tính chủ thể. Và yoga là sự
tổng hợp cao nhất; yoga là cả hai, khoa học và tôn giáo cùng nhau.
Yoga là
siêu khoa học và siêu tôn giáo. Yoga không là Hindu giáo không là Mô ha mét
giáo không là Ki tô giáo - nó là siêu tôn giáo. Và tất nhiên nó là siêu khoa học
vì nó là khoa học về con người - nó là khoa học về bản thân nhà khoa học. Nó chạm
tới điều tối thượng. Đó là lí do tại sao tôi gọi nó là alpha và omega, unio
mystica, sự tổng hợp tối thượng.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment