Osho
- Dhammapada: Con đường của Phật (Tập 2)
Chương
8. Thượng đế yêu tiếng cười
Câu
hỏi thứ nhất:
Thưa
Thầy kính yêu,
Ở
phương Tây tôi đã được huấn luyện là một công nhân xã hội. Tôi được dạy rằng điều
quan trọng là một người kính trọng và yêu mến bản thân mình và cảm thấy xứng
đáng. Tôi đã được dạy rằng điều quan trọng là hỗ trợ để giúp làm mạnh cho bản
ngã. Thầy nói giết chết bản ngã. Tôi bị lẫn lộn.
Prem
Aradhana, bản ngã được cần tới bởi vì cái ta thực chưa được biết tới. Bản ngã
là cái thay thế, nó là thực thể giả. Bởi vì bạn không biết bản thân mình nên bạn
phải tạo ra một trung tâm nhân tạo; bằng không hoạt động trong cuộc sống sẽ
không thể được. Bởi vì bạn không biết khuôn mặt thật của mình, bạn phải đeo mặt
nạ. Không biết về cái bản chất, bạn phải tin cậy vào cái bóng.
Chỉ
có hai cách sống trong cuộc sống. Một là sống nó từ chính cốt lõi của bản thể bạn
- đó đã là cách của các nhà huyền môn. Thiền không là gì ngoài phương cách làm
cho bạn nhận biết về cái ta thực của mình - cái không do bạn tạo nên, cái bạn
đã là vậy rồi. Bạn được sinh ra với nó, bạn là nó! Nó cần được phát hiện ra. Nếu
điều này là không thể, hay nếu xã hội không cho phép điều đó xảy ra... và không
xã hội nào cho phép nó xảy ra cả, bởi vì cái ta thực là nguy hiểm - nguy hiểm
cho nhà thờ đã được lập, nguy hiểm cho nhà nước, nguy hiểm cho đám đông, nguy
hiểm cho truyền thống - bởi vì một khi con người biết tới cái ta thực của mình,
người đó trở thành cá nhân. Người đó không còn thuộc vào tâm lí đám đông nữa;
người đó sẽ không mê tín, và người đó không thể bị khai thác. Người đó không thể
bị dẫn đi như trâu bò, người đó không thể bị ra lệnh và chỉ huy. Người đó sẽ sống
theo ánh sáng của mình, người đó sẽ sống từ nội tâm riêng của mình. Cuộc sống của
người đó sẽ có cái đẹp, sự toàn vẹn vô cùng. Nhưng đó là nỗi sợ của xã hội.
Con
người được hợp nhất trở thành cá nhân, và xã hội muốn bạn trở thành phi cá
nhân. Thay vì tính cá nhân, xã hội dạy bạn là cá tính. Từ 'cá tính -
personality' phải được hiểu. Nó bắt nguồn từ một gốc, 'persona' - persona nghĩa
là mặt nạ. Xã hội cho bạn một ý tưởng giả tạo về bạn là ai; nó cho bạn mỗi một
thứ đồ chơi, và bạn cứ níu bám lấy đồ chơi này cả đời bạn.
Cách
duy nhất là sống qua thiền - thế thì bạn sống cuộc sống của nổi dậy, của phiêu
lưu, của dũng cảm.
Thế
thì bạn thực sự sống! Cách khác để sống, hay để sống giả, là cách thức của bản
ngã - làm mạnh bản ngã, nuôi dưỡng bản ngã; để cho bạn không cần nhìn vào cái
ta, cứ níu bám lấy bản ngã. Bản ngã là vật phẩm do xã hội tạo ra để lừa dối bạn,
làm sao lãng bạn.
Bản
ngã là do con người tạo ra, được chúng ta chế tạo ra. Và bởi vì nó do xã hội chế
tạo ra, xã hội có quyền trên nó. Bởi vì nó do nhà nước và nhà thờ tạo ra, và do
những người đang có quyền lực tạo ra, họ có thể phá huỷ nó vào bất kì lúc nào;
điều đó tuỳ thuộc vào họ. Bạn phải thường xuyên trong sợ, và bạn phải thường
xuyên vâng lời họ, tuân theo họ, để cho bản ngã của bạn còn nguyên không bị động
chạm. Xã hội cho bạn sự kính trọng nếu bạn không phải là cá nhân. Xã hội tôn
vinh bạn nếu bạn không phải là một Jesus, không phải là một Socrates, không phải
là một Phật. Nó kính trọng bạn chỉ nếu bạn là con cừu, không phải là con người.
Phương
Tây đã hoàn toàn quên mất cách thiền - và Ki tô giáo đã là nguyên nhân. Ki tô
giáo đã tạo ra một tôn giáo rất giả tạo, chẳng biết gì về thiền. Ki tô giáo là
rất hình thức; nó là nghi lễ. Nó là một phần của xã hội và cấu trúc chính trị của
xã hội. Karl Marx hoàn toàn đúng về điều đó, rằng nó là thuốc phiện của mọi
người. Bởi vì Ki tô giáo, phương Tây đã mất dấu vết của bản thể riêng của nó.
Và người ta không thể sống mà không có ý tưởng nào đó về cái ta của mình - và nếu
bạn không thể phát hiện được, thế thì tạo ra cái gì đó đi. Nó sẽ là giả, nhưng
cái gì đó vẫn còn tốt hơn là không cái gì.
Aradhana,
điều bạn đã được bảo cho là hoàn toàn vô nghĩa. Không thành vấn đề ai nói điều
đó - các đại học, các chính khách, các tu sĩ. Chắc chắn, bạn sẽ cảm thấy bị lẫn
lộn, bởi vì tôi đang nói cho bạn chính cái đối lập lại: Tôi đang bảo bạn gạt bỏ
bản ngã, bởi vì nếu bạn gạt bỏ bản ngã, bạn gạt bỏ tảng đá đang ngăn cản luồng
tâm thức của bạn.
Tâm
thức của bạn có đó, ngay ở sau tảng đá này; nó phải không được đem từ đâu đó
khác lại. Loại bỏ tảng đá này đi - tôn giáo thực chỉ bao gồm việc loại bỏ cái
không cần thiết, và thế rồi cái cần thiết bắt đầu tuôn chảy. Cái không bản chất
phải bị loại bỏ đi. Và cái bản chất đã có đó rồi, nó đã là hoàn cảnh rồi! Bạn
loại bỏ tảng đá và bạn sẽ ngạc nhiên: bạn không cần tạo ra cái ta thực - nó tự
lộ ra cho bạn.
Và
cái thực có cái đẹp, và cái thực là bất tử. Bởi vì nó bất tử nó không sợ. Cái
không thực thường xuyên run rẩy. Bản ngã bao giờ cũng trong nguy hiểm - bất kì
ai đều có thể phá huỷ được nó. Bởi vì nó đã được những người khác trao cho bạn,
họ có thể lấy lại nó. Hôm nay họ kính trọng bạn, ngày mai họ có thể không kính
trọng bạn. Nếu bạn không theo ý tưởng của họ về cuộc sống, nếu bạn không xác nhận
phong cách hiện hữu của họ, họ sẽ rút lại sự kính trọng của họ. Và bạn sẽ bị xẹp
lép trên đất… và bạn sẽ không biết mình là ai.
Borges
viết:
"Tôi
mơ rằng tôi thức dậy từ một giấc mơ khác - đầy những biến động và rối loạn - và
rằng tôi thức dậy trong một căn phòng tôi không nhận ra. Bình minh đã bừng lên:
ánh sáng khuếch tán yếu ớt làm hằn đường nét của chân giường sắt, bàn. Tôi hoảng
sợ nghĩ 'Mình ở đâu thế này?' và nhận ra rằng tôi đã không biết. Tôi nghĩ 'Mình
là ai?' và tôi không thể nhận ra được bản thân mình. Nỗi sợ lớn dần lên trong
tôi. Tôi nghĩ, 'Việc thức tỉnh đau đớn này đã là địa ngục rồi, việc thức tỉnh
không tương lai này sẽ là cái vĩnh hằng của tôi.' Thế rồi tôi thực sự thức dậy,
run rẩy."
Không
biết tới bản thân mình, không biết tới số phận mình, đó chắc chắn là địa ngục
thực. Và con người không biết tới bản thân mình. Bây giờ, cách thức rẻ hơn là tạo
ra bản ngã, và phương Tây đã đi theo cách thức rẻ hơn này. Mà cũng không chỉ
phương Tây: đa số mọi người ở phương Đông nữa, cũng đã làm cùng điều đó. Chỉ bỏ
vài người đã chứng ngộ sang bên, và cả thế giới đã từng làm cùng một điều.
Phương
Tây chiếm tới chín mươi chín phẩy chín phần trăm người trên thế giới; phương
Đông chỉ gồm vài người, họ có thể được đếm trên đầu ngón tay. Với tôi, phương
Đông và phương Tây không phải là về địa lí - chúng là chiều hướng tâm linh. Phật
Gautam, Lão Tử, Zarathustra, Abraham, Moses, Christ, Thánh Francis - phương
Đông bao gồm những người này. Nơi họ sinh ra không quan trọng, không liên quan.
Chắc chắn Thánh Francis không được sinh ra ở phương Đông, nhưng tôi tính cả ông
ấy như một phần của phương Đông.
Chiều
hướng tâm linh, chiều hướng nơi mặt trời bên trong mọc, là phương Đông. Và đêm
tối của linh hồn, cái không biết gì về mặt trời mọc cả, là phương Tây. Bạn
không trở nên có tính tôn giáo chỉ bởi việc được sinh ra ở Ấn Độ. Tôn giáo
không rẻ thế. Nó là thứ đắt nhất trong sự tồn tại, bởi vì nó là quí giá nhất.
Không
có lối tắt cho nó, còn những người tìm kiếm lối tắt nhất định bị lừa dối bởi ai
đó. Họ sẽ được cho đồ chơi, và bạn có thể cứ tin vào đồ chơi bởi vì bạn không
muốn liều mạng phiêu lưu vào cái không biết.
Cái
không biết lớn nhất tồn tại bên trong bạn. Biển chưa được thăm dò nhất là tâm
thức bạn, và nguy hiểm lớn nhất nữa, bởi vì khi bạn bắt đầu đi vào bên trong, bạn
bắt đầu rơi vào trong cái trống rỗng, và hoảng sợ lớn lao nảy sinh, sợ bị điên,
sợ mất căn cước của bạn... Bởi vì bạn đã biết tới bản thân mình như cái tên, bạn
đã biết tới bản thân mình như một người đặc biệt - bạn đã biết tới bản thân
mình như bác sĩ, như kĩ sư, như doanh nhân; bạn đã biết tới bản thân mình như
người Ấn Độ, người Đức, người Trung Quốc; bạn đã biết tới bản thân mình như người
da đen hay da trắng; bạn đã biết tới bản thân mình như đàn ông hay đàn bà; bạn
đã biết tới bản thân mình như người có giáo dục hay không giáo dục - tất cả những
phân loại này bắt đầu biến mất.
Khi
bạn đi vào bên trong, bạn không là đàn ông không là đàn bà: Neti, neti - không
cái này không cái nọ, không da trắng không da đen, không Hindu giáo không Mô ha
mét giáo, không người Ấn Độ không người Pakistan. Khi bạn đi vào bên trong, tất
cả những phân loại này bắt đầu tuột khỏi tay bạn. Thế thì bạn là ai? Bạn bắt đầu
mất dấu vết bản ngã của bạn, và nỗi sợ lớn nảy sinh - sợ cái không. Bạn rơi vào
trong cái vô hạn. Ai biết liệu bạn sẽ có khả năng quay lại hay không? Và ai biết
cái gì sẽ là kết quả của việc thám hiểm này? Kẻ hèn nhát níu bám lấy bến bờ và
quên mất tất cả về biển. Đó là điều đang xảy ra trên khắp thế giới. Mọi người
níu bám lấy bản ngã bởi vì bản ngã cho bạn ý tưởng nào đó về bạn là ai, cho bạn
sáng tỏ nào đó. Nhưng bản ngã là giả, và sáng tỏ này cũng là giả.
Thà
bị lẫn lộn bởi thực tại còn tốt hơn là được sáng tỏ với cái không thực ra.
Aradhana,
bạn đúng đấy: với tôi lẫn lộn lớn nhất định xảy ra - bởi vì mọi tri thức của bạn,
dần dần, dần dần sẽ được chứng tỏ đơn giản là dốt nát chứ không gì khác. Ẩn giấu
đằng sau tri thức của bạn là dốt nát của bạn. Ẩn đằng sau cái láu lỉnh của bạn
là tâm trí ngu đần của bạn. Và đằng sau bản ngã chẳng có gì cả - nó là cái
bóng.
Một
khi điều này trở thành rõ ràng cho bạn, rằng bạn đã níu bám lấy cái bóng, sợ
hãi lớn và lẫn lộn lớn, hỗn độn lớn nhất định xảy ra. Nhưng từ hỗn độn này các
ngôi sao được sinh ra. Người ta phải trải qua những hỗn độn như vậy - đó
là một phần của trưởng thành tâm linh. Bạn phải làm mất đi cái giả để có được
cái thật. Nhưng giữa hai điều này sẽ là một khoảng hở mà cái giả sẽ mất đi và
cái thật sẽ chưa tới. Đó là những khoảnh khắc, khoảnh khắc mấu chốt nhất... đây
là những khoảnh khắc mà bạn cần thầy hay bạn.
Mới
hôm nọ, Phật đã nói, "Thầy hay bạn là được cần." Đây là những khoảnh
khắc đó khi bạn sẽ cần bàn tay của ai đó, người có thể giữ bạn, người có thể đỡ
bạn, người có thể nói, "Đừng sợ. Cái trống rỗng này sẽ biến mất. Chẳng mấy
chốc bạn sẽ tuôn trào - chỉ chút ít chờ đợi thêm nữa, chút ít kiên nhẫn thêm nữa."
Thầy không thể cho bạn cái gì, nhưng thầy có thể cho bạn dũng cảm. Thầy có thể
đưa bàn tay của mình cho bạn vào những khoảnh khắc mấu chốt đó khi tâm trí bạn
muốn quay lại, trở lại, níu bám bến bờ này.
Vui
vẻ của thầy, niềm tin của thầy, thẩm quyền của thầy... nhớ lấy, khi tôi nói
"thẩm quyền của thầy" tôi không ngụ ý rằng thầy là người cầm quyền.
Thầy không bao giờ là người cầm quyền, nhưng thầy có thẩm quyền, bởi vì thầy là
nhân chứng cho cái ta riêng của mình. Thầy biết về bờ bên kia, thầy đã từng ở bờ
bên kia. Bạn chỉ mới nghe nói về bờ bên kia, bạn đã đọc về nó; bạn chỉ biết về
bờ bên này, sự thoải mái và an ninh, và an toàn của bờ này. Và khi cơn bão
hoành hành dữ dội và bạn bắt đầu mất cái nhìn về bờ này, và bạn không có khả
năng thấy được bờ bên kia, tâm trí bạn sẽ nói, "Quay lại thôi! Quay lại
nhanh nhất có thể được đi! Bờ cũ đang biến mất và bờ mới không xuất hiện. Có thể
không có gì ở bờ bên kia cả, có thể không có bờ bên kia chút nào. Và cơn bão to
thế!"
Trong
những khoảnh khắc đó, nếu bạn ở cùng thầy, và ai đó đang ngồi trong thuyền im lặng,
hoàn toàn bình thản và yên tĩnh, cười lớn và nói, "Đừng lo," vẫn cứ
thổi sáo, hay ca hát bài ca, hay kể chuyện cười cho bạn, và người đó nói,
"Đừng lo. Có bờ bên kia - ta biết, ta đã từng ở đó. Kiên nhẫn thêm chút nữa
đi..."
Nhìn
vào mắt người đó... vào sự tự tin tuyệt đối của người đó sẽ là giúp đỡ duy nhất.
Thấy sự bình thản, yên tĩnh của người đó, sự toàn vẹn của người đó... Người đó
không nhìn lại, người đó không sợ: người đó phải đã thấy bờ bên kia rồi, người
đó phải đã ở đó rồi. Toàn bộ bản thể của người đó nói lên điều đó, toàn thể bản
thể của người đó chứng minh cho điều đó. Và khi người đó cầm tay bạn, bạn có thể
cảm thấy rằng tay người đó không run; bạn có thể cảm thấy rằng bất kì điều gì
người đó nói, người đó nói từ kinh nghiệm riêng của mình, không phải bởi vì nó
được viết trong Kinh Thánh, trong Gita, trong Dhammapada. Người đó biết điều đó
theo cách riêng của mình! - đó là thẩm quyền của người đó.
Một
khi tự tin của người đó, tin cậy của người đó, trở thành lây nhiễm cho bạn, bạn
cũng sẽ bắt đầu cười. Tất nhiên, tiếng cười của bạn sẽ có chút ít thần kinh
trong nó, nhưng bạn sẽ bắt đầu cười. Bạn có thể bắt đầu hát cùng người đó, có
thể chỉ để tránh sợ, cũng như mọi người huýt sáo trong bóng tối. Bạn có thể
tham gia cùng điệu vũ của người đó, chỉ để quên đi tất cả về điều đang xảy ra.
Bạn không muốn thấy cơn bão bao quanh mình, và bạn không muốn nhớ quá khứ và bạn
không muốn nghĩ về tương lai. Nó dường như đen tối và ảm đạm với bạn. Bạn có thể
tham gia vào trong điệu vũ của người đó...
Khi
nhảy múa với người đó, cho dù là từ sợ, khi ca hát với người đó cho dù việc hát
của bạn nhất định là thần kinh, khi cười cùng người đó mặc dầu tiếng cười của bạn
không toàn bộ, cơn bão sẽ chóng qua đi. Kiên nhẫn của bạn càng sâu, điều đó
càng chóng xảy ra - bạn cũng sẽ có khả năng thấy bờ bên kia, bởi vì khi mắt
không bị trục trặc, khi mắt không đầy sợ, chúng trở thành có tính cảm nhận. Việc
thấy nảy sinh trong bạn - bạn trở thành người thấy.
Bờ
bên kia không xa xôi gì; chỉ tại mỗi mắt bạn đầy khói đến mức bạn không thể thấy
được. Thực ra, chính bờ này là bờ bên kia. Nếu mắt bạn sáng tỏ, nếu cảm nhận của
bạn không bị u ám, nếu sáng suốt đã nảy sinh trong bản thể bạn, nếu bạn có thể
thấy và nghe, chính bờ này là bờ bên kia. Khi người ta biết, người ta thực sự
cười vào toàn thể cái nhố nhăng của cuộc sống - bởi vì chúng ta đã thu được cái
chúng ta khao khát. Kho báu này đi cùng với chúng ta, và chúng ta cứ chạy quanh
đây đó.
Bản
ngã phải không được tạo ra, bởi vì bạn có cái ta tối cao bên trong mình.
Nhưng
tôi có thể hiểu được lẫn lộn của bạn. Vẫn còn bị lẫn lộn đi. Đừng quay sự sáng
tỏ cũ của bạn - nó là lừa dối. Ở trong lẫn lộn này, ở cùng tôi thêm chút nữa,
và chẳng mấy chốc lẫn lộn sẽ tản mát đi và biến mất. Và thế rồi một loại sáng tỏ
hoàn toàn mới tới.
Có
hai loại sáng tỏ - một, sáng tỏ chỉ đơn giản có tính trí tuệ, bất kì khoảnh khắc
nào cũng có thể bị lấy đi, hoài nghi có thể được tạo ra vào bất kì khoảnh khắc
nào... Trí tuệ đầy những hoài nghi. Bất kì cái gì bạn đã nghe thấy và bất kì
cái gì bạn đã được bảo đều bị tôi dễ dàng lấy đi thế; nó chẳng giá trị gì mấy.
Huấn luyện cả đời của bạn, và tôi đã lấy đi mảnh đất từ dưới chân bạn dễ dàng
thế... và bạn bị lẫn lộn. Sáng tỏ như vậy có thể có giá trị gì? Nếu tôi có thể
làm cho bạn lẫn lộn dễ dàng thế, điều đó nghĩa là nó không thực sự sáng tỏ đâu.
Tôi sẽ cho bạn một loại sáng tỏ mới mà không thể bị làm lẫn lộn được.
Có
lần một triết gia lớn tới gặp Ramakrishna. Triết gia này biện luận chống Thượng
đế, và ông ấy biện luận thực giỏi. Tên ông ấy là Keshav Chandra Sen.
Ramakrishna hoàn toàn thất học; ông ấy chẳng biết gì về triết học cả, ông ấy
chưa bao giờ tới đại học, ông ấy chỉ đọc được tới mức lớp hai thôi. Ông ấy có
thể viết và đọc một chút tiếng Bengali.
Triết
gia này là người rất có giáo dục, nổi tiếng thế giới, ông ấy đã viết nhiều
sách. Ông ấy biện luận, còn Ramakrishna cười. Và mỗi lần triết gia này nêu ra một
luận cứ hay, sâu sắc chống Thượng đế, Ramakrishna nhảy lên và ôm chầm lấy ông
ta. Một đám đông lớn đã tụ tập để xem cảnh tượng này, điều đang xảy ra. Triết
gia này xấu hổ lắm, bởi vì ông ấy đã tới để tranh biện, và đây là cái loại
tranh biện gì thế này? Người này cười, nhảy múa - đôi khi còn ôm chầm.
Triết
gia này nói, "Ông không bị xáo động bởi luận cứ của tôi sao?"
Ramakrishna
nói, "Làm sao tôi có thể bị xáo động được? Tôi thực sự thích luận cứ của
ông. Ông láu lỉnh, ông thông minh, luận cứ của ông thật là cừ - nhưng tôi có thể
làm gì được? Tôi biết Thượng đế! Đấy không phải là vấn đề luận cứ, không phải
là tôi tin vào Thượng đế. Nếu mà tôi tin, ông sẽ làm cho tôi xáo động, ông sẽ lấy
đi mọi sự sáng tỏ của tôi và ông sẽ làm cho tôi lẫn lộn. Nhưng tôi biết ngài hiện
hữu mà!"
Nếu
bạn biết, bạn biết - không có cách nào làm sao lãng bạn được. Tôi sẽ cho bạn loại
sáng tỏ đó - cái biết, không phụ thuộc vào bất kì luận cứ nào, và nảy sinh từ
kinh nghiệm tồn tại. Thế thì bạn không cần phải được dạy kính trọng bản thân
mình hay yêu lấy bản thân mình hay cảm thấy có giá trị. Biết bản thân mình, người
ta biết người là Thượng đế. Bây giờ bạn có thể bày tỏ kính trọng thêm nào nữa
cho bản thân mình? Khi kinh nghiệm này nảy sinh trong bạn - "aham
brahmasmi! Ta là Thượng đế!" - bạn còn có thể bày tỏ kính trọng thêm nào nữa
cho bản thân mình?
Và
ai có đó để cho kính trọng? Chỉ mỗi Thượng đế có đó. Khi trong chỗ thầm kín sâu
sắc nhất của bản thể bạn việc nhận ra xảy tới: "Ana'l haq! - Ta là chân
lí!" bạn còn cần cảm thấy xứng đáng nào thêm nữa? Bạn đã đi tới điều tối
thượng, và bạn đã đi tới biết điều tối thượng như bản thể cốt lõi nhất của
mình, lãnh thổ của mình.
Vâng,
bạn đã được bảo kính trọng bản thân mình bởi vì bạn không biết bạn là ai. Bạn
đã được bảo cảm thấy xứng đáng bởi vì bạn cảm thấy vô giá trị. Bạn đã được bảo
yêu lấy bản thân mình bởi vì bạn ghét bản thân mình. Và điều kì lạ này, điều kì
khôi này, là ở chỗ cũng cùng những người đó đã làm cả hai điều đối với bạn.
Cùng
những người đó trước hết làm cho bạn cảm thấy vô giá trị; đây là bí mật thương
mại của mọi nhà thờ, của tất cả cái gọi là tôn giáo, của mọi ý thức hệ chính trị,
của mọi xã hội, các nền văn minh và văn hoá đã tồn tại cho tới nay. Đây là bí mật
thương mại: trước hết họ làm cho bạn cảm thấy vô giá trị - mọi đứa trẻ đều bị
làm cho cảm thấy vô giá trị. Nó được bảo, "Nếu cháu chưa trở thành thế này
thế nọ, cháu chẳng có giá trị gì." Khi nó bắt đầu cảm thấy vô giá trị,
chúng ta bắt đầu bảo nó, "Cảm thấy xứng đáng đi, cảm thấy giá trị nào đó.
Nếu cháu không thể cảm thấy xứng đáng, cuộc đời cháu bị phí hoài."
Trước
hết chúng ta bảo nó ghét bản thân nó và kết án bản thân nó; mọi thứ nó làm đều
sai, do đó nó bắt đầu ghét bản thân nó bởi vì nó không phải là người đẹp. Bố mẹ,
thầy giáo, tu sĩ, họ tất cả đều cùng chung tay vào trong mưu đồ này. Mọi đứa trẻ
đều bị qui về trạng thái bị kết án đến mức nó bắt đầu cảm thấy,
"Mình
phải là người xấu nhất trên thế giới, bởi vì mình làm những điều không nên làm,
và mình không làm những điều nên làm." Và thế rồi một ngày nào đó chúng ta
bắt đầu bảo đứa trẻ, "Sao cháu không yêu bản thân mình? Bằng không, làm
sao cháu sống sót được?"
Chúng
ta lấy đi mọi kính trọng khỏi đứa trẻ, và khi nó trở thành bất kính đối với bản
thân nó chúng ta bắt đầu bảo nó tạo ra kính trọng. Đây là tình huống ngớ ngẩn
thế! Từng đứa trẻ được sinh ra với kính trọng lớn lao về bản thân mình. Từng đứa
trẻ đều biết giá trị của nó, giá trị cố hữu của nó. Nó không xứng đáng bởi vì
nó giống Phật hay Krishna hay Christ - nó đơn giản biết nó có giá trị bởi vì nó
hiện hữu, nó có sự hiện hữu. Thế là đủ! Và mỗi đứa trẻ đều yêu bản thân nó,
kính trọng bản thân nó.
Chính
bạn là người dạy cho nó điều đối lập. Trước hết bạn phá huỷ tất cả những cái đẹp
trong nó, và thế rồi bạn bắt đầu vẽ bức tranh giả. Phá đi cái đẹp tự nhiên và
thế rồi vẽ khuôn mặt nó, làm cho nó thành tuyệt đối giả. Nhưng sao điều này được
thực hiện? - bởi vì chỉ người giả mới có thể là nô lệ, chỉ người giả mới có thể
tuân theo các chính khách ngu xuẩn, chỉ người giả mới có thể là nạn nhân của
các tu sĩ hoàn toàn dốt nát. Nếu mọi người đều thực, họ không thể bị khai thác
và không thể bị áp bức.
Aradhana,
vẫn còn bị lẫn lộn đi - điều đó là tốt. Điều tốt là bạn đã tới điểm này nơi lẫn
lộn lớn đã nảy sinh trong bạn. Bạn có thể không còn tin cậy vào bản ngã của bạn
nữa - tốt! Điều đó cực kì quan trọng, bởi vì bây giờ bước thứ hai trở thành có
thể. Tôi sẽ trả cho bạn thời thơ ấu của bạn, giá trị bên trong của bạn, điều
không phải là một hiện tượng được tạo ra; tình yêu tự nhiên của bạn, điều không
được trau dồi nên; kính trọng tự phát của bạn, điều nảy sinh chỉ khi bạn bắt đầu
cảm thấy rằng mình là một phần của Thượng đế, rằng bạn là điều thiêng liêng.
Nhớ
lấy, bản ngã có tính so sánh - nó bao giờ cũng so sánh bản thân nó với người
khác - và cái ta không so sánh. Khi bạn biết tới bản thân mình nó chẳng kém cỏi
hơn chẳng cao siêu hơn bất kì ai, nó đơn giản là bản thân nó. Nhưng bản ngã có
tính so sánh. Và nhớ lấy, nếu bạn cảm thấy cao siêu so với ai đó, bạn nhất định
cảm thấy kém cỏi so với ai đó khác. Cho nên bản ngã là hiện tượng rất rắc rối:
một mặt nó làm cho bạn cảm thấy cao siêu, mặt khác nó làm cho bạn cảm thấy kém
cỏi. Nó giữ bạn trong mù quáng kép, nó cứ kéo bạn về một bên. Nó làm bạn phát rồ.
Một
mặt bạn biết rằng mình là cao siêu hơn người phục vụ của mình, nhưng với ông chủ
của bạn thì sao? Bạn buộc người hầu phải phục tùng bạn, và bạn phục tùng ông chủ.
Bạn buộc người phục vụ của mình hay vợ mình hay con mình là nô lệ cho mình. Và
thế rồi với ông chủ của bạn thì sao? Bạn vẫy đuôi ở đó.
Làm
sao bạn có thể phúc lạc được? Cả hai điều đều sai. Làm cho người khác cảm thấy
kém cỏi là bạo hành, đó là tội chống lại Thượng đế; và làm cho bản thân bạn cảm
thấy kém cỏi trước ai đó lại là tội chống lại Thượng đế. Khi bạn biết cái ta thực,
cả hai điều này biến mất. Thế thì bạn là bạn, và người khác là người khác, và
không có so sánh - không ai siêu hơn và không ai kém hơn.
Đây
là điều tôi gọi là chủ nghĩa cộng sản tâm linh, nhưng điều này là có thể chỉ
khi việc tự biết mình đã xảy ra. Karl Marx hay Friedrich Engels, Joseph Stalin
hay Mao Trạch Đông, những người này không phải là người cộng sản thực. Họ sống
trong bản ngã. Người cộng sản thực là Phật Gautam, Jesus, Lão Tử - không ai biết
họ là người cộng sản nhưng họ là người cộng sản thực, bởi vì nếu bạn hiểu cái
nhìn của họ, mọi so sánh biến mất. Và khi không có so sánh, có chủ nghĩa cộng sản.
Bình đẳng là có thể chỉ khi so sánh biến mất khỏi thế giới.
Không
biết tới bản thân mình, bạn gần như ngủ say; không biết tới bản thân mình, bạn
giống như người say cứ đi hỏi người khác, "Nhà tôi đâu?" Người
say thậm chí đôi khi còn hỏi, "Thưa ông, xin ông bảo tôi là ai?"
Một
lần một người say quay lại chỗ người đứng quầy rượu và hỏi anh ta, "Ông có
thấy bạn tôi không? Anh ấy có ở đây không?"
Người
đứng quầy nói, "Có đấy, mới vài phút trước
đây
thôi, anh ấy đã ở đây."
Và
người say hỏi, "Xin anh vui lòng cho tôi biết, tôi có ở cùng đó với anh ấy
không?"
Một
hôm có một người say đứng tại quầy rượu. Anh ta quay sang người bên phải mình
và nói, "Anh đổ bia vào túi quần tôi đấy à?"
"Tôi
chắc chắn không làm đâu," người này nói.
Thế
rồi người say quay sang người bên trái mình và nói, "Anh có đổ bia vào túi
quần tôi không đấy?"
Người
này nói, "Tôi chắc chắn không đổ bia vào túi quần anh đâu."
Người
say nói, "Vậy như tôi nghĩ rồi - việc bên trong rồi."
Câu
hỏi thứ hai:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tầm
nhìn của thầy về công xã mới là gì?
Krishna
Prem, công xã mới là một thực nghiệm về chủ nghĩa cộng sản tâm linh. Từ 'cộng sản'
bắt nguồn từ 'công xã - commune'. Chỉ có một khả năng của chủ nghĩa cộng sản
trên thế giới và khả năng đó là qua thiền. Chủ nghĩa cộng sản là không thể có
được qua thay đổi cấu trúc kinh tế của xã hội.
Thay
đổi cấu trúc kinh tế của xã hội sẽ chỉ đem tới các giai cấp mới; nó không thể
đem tới xã hội phi giai cấp được. Giai cấp vô sản có thể biến mất, giai cấp tư
sản có thể ra đi, nhưng thế rồi người cai trị và người bị cai trị... đó là điều
đã xảy ra ở nước Nga Xô viết, đó là điều đã xảy ra ở Trung Quốc. Những phân biệt
mới, các giai cấp mới đã nảy sinh.
Chủ
nghĩa cộng sản về cơ bản là tầm nhìn tâm linh. Vấn đề không phải là thay đổi cấu
trúc kinh tế của xã hội, mà là thay đổi viễn kiến tâm linh của mọi người. Công
xã mới sẽ là không gian nơi chúng ta có thể tạo ra con người không bị ám ảnh bởi
so sánh, những người không bị ám ảnh bởi bản ngã, những người không bị ám ảnh bởi
cá tính.
Công
xã mới sẽ là hoàn cảnh để trong đó con người mới có thể trở thành có thể.
Socrates nói rằng thầy là bà đỡ, và ông ấy đúng: mọi thầy đều là bà đỡ. Họ bao
giờ cũng mang nhân loại mới vào sự tồn tại. Qua họ mà con người mới được sinh
ra.
Con
người cũ bị kết thúc. Con người cũ không còn hợp thức nữa. Và với con người cũ,
tất cả những cái thuộc vào con người cũ cũng đã trở thành không hợp thức, không
liên quan. Con người cũ có tính phủ định cuộc sống. Công xã mới sẽ tạo ra tính
tôn giáo khẳng định cuộc sống. Khẩu hiệu của công xã mới là: Chính thân thể này
là Phật, chính trái đất này là Thiên đường Hoa sen.
Công
xã mới sẽ thần thánh hoá trái đất, làm cho mọi thứ đều thành thiêng liêng.
Chúng ta không định phân chia sự tồn tại thành thế giới này và thế giới kia:
chúng ta định sống sự tồn tại trong tính toàn bộ của nó. Chúng ta định sống như
các nhà khoa học, như các nhà thơ, như các nhà huyền môn - tất cả cùng nhau!
Nhà
khoa học có tính bộ phận. Ông ấy chỉ tin vào thân thể, ông ấy không thể vượt ra
ngoài nó; tầm nhìn của ông ấy rất hạn chế, thiển cận. Nhà thơ níu bám lấy khía
cạnh khác của nhân loại, phần cảm giác. Ông ấy có thể thấy cái đẹp, nhưng cái đẹp
của ông ấy có tính rất nhất thời. Ông ấy không có ý tưởng gì về cái vĩnh hằng.
Nhà huyền môn sống trong bản thể, ông ấy sống trong trạng thái vô thời gian, bất
tử. Bởi vì ông ấy sống trong trạng thái vô thời gian, bất tử, ông ấy trở thành
dửng dưng với thế giới của thời gian và không gian.
Ông
ấy trở thành dửng dưng cả với khoa học và với thơ ca. Đây là tất cả ba khía cạnh
của thực ra, ba khuôn mặt của Thượng đế, ba ngôi, tam thể.
Nỗ
lực của tôi trong công xã mới là để tạo ra con người không bộ phận... con người
toàn bộ, toàn thể, linh thiêng. Con người nên là cả ba đồng thời. Con người phải
có tính chính xác và khách quan như nhà khoa học; và con người phải có tính nhạy
cảm, tràn đầy của trái tim, như nhà thơ; và con người phải được bắt rễ sâu vào
trong bản thể mình như nhà huyền môn. Con người không nên chọn lựa. Con người
nên cho phép tất cả ba chiều hướng này cùng tồn tại.
Phương
Đông đã khổ bởi vì chúng ta trở nên quá quan tâm tới bản thể; chúng ta mất lối
của khoa học, chúng ta mất lối của nghệ thuật. Phương Tây đã khổ, đang khổ, bởi
vì nó đã làm mất lối của bản thể. Phương Đông trở thành giầu có nội tâm nhưng
nghèo khó ngoại diên; phương Tây đã trở nên giầu có ngoại diên, nghèo khó nội
tâm. Công xã mới sẽ giầu có theo cả hai cách.
Tôi
tin vào giầu có. Tôi không phải là kẻ tôn thờ nghèo khó. Điều đó đơn giản là
ngu xuẩn. Tôi muốn nhân loại giầu có theo mọi cách có thể: giầu trong khoa học,
giầu trong công nghệ, giầu trong thơ ca, giầu trong âm nhạc, giầu trong thiền,
giầu trong huyền môn. Cuộc sống nên được sống trong tính đa chiều của nó. Thượng
đế nên được tiếp cận tới qua mọi con đường có thể. Sao làm nghèo nàn linh hồn bạn?
Công
xã mới sẽ tạo ra không gian, hoàn cảnh, cho nhân loại đa chiều này được sinh
ra. Và tương lai thuộc vào con người mới này.
Con
người cũ tin vào từ bỏ; con người cũ đã tin rằng nếu bạn muốn tới gần Thượng đế
hơn, bạn phải lánh xa khỏi thế giới, cứ dường như có xung đột giữa Thượng đế và
thế giới. Điều đó hiển nhiên sai. Thế giới tồn tại qua Thượng đế! Thế giới là
thân thể của Thượng đế - không thể có bất kì xung đột nào được! Nếu như có bất
kì xung đột nào, thế thì thế giới đã biến mất từ lâu trước đây rồi.
Thế
giới thở, đang sống, và cuộc sống là Thượng đế. Cây là thiêng liêng bởi vì nó sống,
và đá là thiêng liêng bởi vì đá cũng sống theo cách riêng của nó, đá cũng trưởng
thành. Toàn thể sự tồn tại tràn đầy cuộc sống, tuôn chảy với cuộc sống. Thượng
đế không chống lại thế giới - làm sao hoạ sĩ có thể chống lại bức tranh của
mình được? và làm sao nhà thơ có thể chống lại thơ ca của mình được? và làm sao
nhạc sĩ có thể chống âm nhạc của mình được? Thế giới là thơ ca của ngài, bức
tranh của ngài, âm nhạc của ngài - nó là điệu vũ của ngài.
Con
người cũ đã sống trong từ bỏ, trốn chạy khỏi thế giới vào hang động, vào
các tu viện, lên Himalayas. Con người cũ là kẻ đào tẩu, con người cũ sợ sống,
con người đó sẵn sàng chết hơn. Bằng cách nào đó con người cũ có tính tự tử.
Con
người mới của tôi sẽ ở sâu trong tình yêu với cuộc sống. Và tôn giáo của tôi
không phải là từ bỏ mà là hân hoan. Công xã mới sẽ tạo ra mọi cơ hội có thể có
để hân hoan, ca hát, nhảy múa.
Công
xã mới sẽ là một loại tính tôn giáo mới toàn bộ, có tính tâm linh. Không ai là
người Hindu giáo hay người Mô ha mét giáo hay người Ki tô giáo hay người Jaina
giáo, nhưng mọi người đều sẽ có tính tôn giáo - chỉ tính tôn giáo. Với tôi, tôn
giáo không cần có tính từ. Và khoảnh khắc tôn giáo trở nên bị gắn với một tính
từ, nó không còn là tôn giáo nữa - nó trở thành chính trị.
Bayazid
không phải là người Mô ha mét giáo. Bản thân Mohammed không là người Mô ha mét
giáo, không thể là vậy được. Christ không phải là người Ki tô giáo và Phật
không phải là Phật tử. Họ đơn giản có tính tôn giáo. Họ có hương vị nào đó, im
lặng nào đó, duyên dáng nào đó, bao quanh họ. Họ là những cánh cửa sổ mở sang
cõi bên kia. Qua họ bạn có thể thấy cõi bên kia, qua họ Thượng đế cứ ca hát cả
nghìn lẻ một bài ca.
Công
xã mới sẽ không phải là của bất kì tôn giáo nào. Nó sẽ có tính tôn giáo. Nhưng
tôn giáo sẽ không phải là siêu phàm, nó sẽ rất sát đời thường; do đó nó sẽ có
tính sáng tạo, nó sẽ thám hiểm mọi khả năng có tính sáng tạo. Mọi loại sáng tạo
sẽ được hỗ trợ, nuôi dưỡng.
Con
người tôn giáo thực phải đóng góp cho thế giới này. Người đó phải làm nó đẹp
hơn một chút so với nó lúc người đó thấy nó khi đi vào thế giới. Người đó phải
làm cho nó vui vẻ hơn một chút. Người đó phải làm cho nó thơm hương hơn một
chút. Người đó phải làm cho nó hài hoà hơn một chút. Đó sẽ là đóng góp của người
đó.
Trong
quá khứ chúng ta đã kính trọng mọi người bởi các lí do sai. Chúng ta kính trọng
ai đó bởi vì người đó nhịn ăn. Bây giờ việc nhìn ăn chẳng đóng góp gì cho thế
giới cả. Và người cứ nhịn ăn lâu đơn giản là bạo hành với bản thân mình. Kính
trọng người đó là kính trọng bạo hành, kính trọng người đó là kính trọng bản
năng tự tử, kính trọng người đó là kính trọng tự bạo. Người đó ốm yếu về tinh
thần! Người đó không tự nhiên, người đó bất bình thường. Người đó cần điều trị
tâm lí, người đó cần sự giúp đỡ. Nhưng bạn kính trọng người đó, và bởi vì kính
trọng của bạn, bản ngã của người đó được thổi phồng; cho nên nếu người đó định
nhịn ăn trong một tháng, người đó sẽ nhịn ba tháng luôn. Và người đó càng nhịn
ăn nhiều, người đó càng hành hạ thân thể mình nhiều, bạn càng bầy tỏ kính trọng
của bạn cho người đó hơn.
Công
xã mới sẽ không kính trọng bất kì khuynh hướng tự bạo nào. Nó sẽ không kính trọng
bất kì chủ nghĩa khổ hạnh nào, nó sẽ không kính trọng bất kì khuynh hướng bất
thường, phi tự nhiên nào - nó sẽ kính trọng con người tự nhiên. Nó sẽ kính trọng
đứa trẻ trong con người, nó sẽ kính trọng hồn nhiên, và nó sẽ kính trọng tính
sáng tạo. Nó sẽ kính trọng người vẽ bức tranh đẹp, nó sẽ kính trọng người thổi
sáo hay. Người thổi sáo sẽ có tính tôn giáo, và hoạ sĩ sẽ có tính tôn giáo, và
vũ công sẽ có tính tôn giáo; không phải là người nhịn ăn lâu, người hành hạ
thân thể mình, người nằm trên giường gai, người làm bản thân mình què quặt.
Đó
sẽ là việc bắt đầu của một nhân loại mới. Điều đó là cần thiết, tuyệt đối cần
thiết. Nếu chúng ta không thể tạo ra được con người mới trong hai mươi năm sắp
tới - đến cuối thế kỉ này - thế thì nhân loại không có tương lai. Con người cũ
đã đi tới chỗ kết thúc phạm vi của nó. Con người cũ sẵn sàng tự tử toàn cầu.
Chiến tranh thế giới thứ ba sẽ là tự tử toàn cầu. Điều đó có thể tránh được chỉ
nếu loại người mới có thể được tạo ra.
Đây
sẽ là một thực nghiệm, một thực nghiệm lớn mà theo đó nhiều điều sẽ phụ thuộc
vào. Nó có tác động cực kì to lớn tới tương lai. Sẵn sàng cho nó đi. Được chuẩn
bị cho nó đi. Đạo tràng này chỉ là cầu nhảy xuất phát... Ở một qui mô nhỏ tôi
đang làm thực nghiệm. Công xã mới sẽ ở qui mô lớn: mười nghìn sannyasins sống
cùng nhau như một thân thể, một sinh linh. Không ai sẽ sở hữu cái gì; mọi người
sẽ dùng mọi thứ, mọi người sẽ tận hưởng. Mọi người sẽ sống một cách tiện nghi,
một cách giầu có, vì chúng ta có thể đảm đương được. Nhưng không ai sẽ sở hữu
cái gì cả. Không chỉ đồ vật không bị sở hữu, mà con người cũng sẽ không bị sở hữu
trong công xã mới. Nếu bạn yêu một người đàn bà, sống với cô ấy - từ tình yêu cực
kì, từ vui vẻ cực kì - nhưng đừng trở thành chồng cô ấy, bạn không thể thế được.
Bạn không trở thành vợ. Trở thành "vợ" hay "chồng" là xấu bởi
vì nó đem tới quan hệ sở hữu; thế thì người kia bị thu thành tài sản.
Công
xã mới sẽ không có tính sở hữu, tràn đầy tình yêu - sống trong tình yêu nhưng
không có tính sở hữu chút nào; chia sẻ mọi loại vui vẻ, tạo ra toàn những vui vẻ...
Khi mười nghìn người đóng góp, điều đó có thể trở nên có tính bùng nổ. Hân hoan
sẽ lớn lao.
Jesus
nói đi nói lại mãi: Hân hoan! Hân hoan! Hân hoan! Nhưng ông ấy vẫn chưa được
chưa ai nghe. Người Ki tô giáo trông nghiêm chỉnh thế, và họ đã vẽ Jesus cũng
theo cách đó dường như là bản thân ông ấy chưa bao giờ hân hoan cả. Người Ki tô
giáo nói Jesus chưa bao giờ cười! Điều này là khôi hài. Người nói "Hân
hoan!" người hay thích thức ăn ngon, rượu ngon, người hay ăn tiệc tùng và
tham dự lễ hội, người mà quanh mình bao giờ cũng có tiệc tùng - người đó không
bao giờ cười sao? Người Ki tô giáo đã đem một Christ giả cho thế giới.
Trong
công xã của tôi, Phật sẽ cười và nhảy múa, Christ sẽ cười và nhảy múa. Những
anh chàng đáng thương này, chẳng ai đã theo họ mãi cho tới giờ! Từ bi với họ đi
- để cho họ nhảy múa và ca hát và nô đùa. Công xã mới của tôi sẽ biến công việc
thành vui đùa, nó sẽ biến cuộc sống thành tình yêu và tiếng cười.
Nhớ
lấy khẩu hiệu này một lần nữa - thần thánh hoá trái đất này, làm cho mọi thứ
thành thiêng liêng, biến đổi cái bình thường, cái trần tục thành những điều phi
thường, tâm linh. Toàn thể cuộc sống phải là ngôi đền chùa của bạn, công việc
phải là tôn thờ của bạn, tình yêu phải là lời cầu nguyện của bạn.
Chính
thân thể này là Phật, chính trái đất này là Thiên đường Hoa sen.
Câu
hỏi thứ ba:
Thưa
Thầy kính yêu,
Tôi
là nhà tâm lí. Tôi đã hi vọng rằng việc nghiên cứu tâm lí sẽ giúp làm thay đổi
cuộc đời tôi, nhưng chẳng cái gì như thế đã xảy ra. Tôi phải làm gì bây giờ?
Tâm
lí học vẫn còn là khoa học rất, rất chưa chín muồi. Nó còn rất thô sơ, nó chỉ mới
là bắt đầu. Nó chưa là cách sống - nó không thể biến đổi bạn được. Nó chắc chắn
có thể cho bạn vài sáng suốt trong tâm trí, nhưng những sáng suốt đó sẽ không
là biến đổi. Tại sao? - bởi vì biến đổi bao giờ cũng xảy ra từ bình diện cao
hơn. Biến đổi chưa bao giờ có nghĩa là giải quyết vấn đề - vẫn còn ở cùng bình
diện cũ - điều đó nghĩa là điều chỉnh. Tâm lí học vẫn đang cố gắng giúp bạn điều
chỉnh - điều chỉnh theo xã hội, cái bản thân nó đã điên khùng rồi, điều chỉnh
theo gia đình, điều chỉnh theo các ý tưởng đang chi phối quanh bạn. Nhưng tất cả
những ý tưởng đó - gia đình bạn, xã hội bạn - bản thân chúng đều ốm yếu, bệnh tật,
và điều chỉnh theo chúng sẽ cho bạn sự bình thường nào đó, ít nhất có vẻ bề
ngoài lành mạnh, nhưng điều đó sẽ không làm biến đổi bạn.
Biến
đổi có nghĩa là thay đổi bình diện của hiểu biết của bạn. Nó tới qua việc siêu
việt lên. Nếu bạn muốn thay đổi tâm trí bạn, bạn phải đi sang trạng thái vô
trí. Chỉ từ tầm cao đó bạn mới có khả năng thay đổi tâm trí mình, bởi vì từ chiều
cao đó bạn sẽ là người chủ. Vẫn còn trong tâm trí và cố thay đổi tâm trí bằng bản
thân tâm trí là quá trình vô tích sự. Điều đó cũng giống như tự kéo mình lên
qua dây giầy của mình. Điều đó cũng giống như con chó cố bắt đuôi của nó; đôi
khi chúng làm vậy, đôi khi chúng hành xử rất con người. Con chó đang ngồi sưởi
nắng mặt trời buổi sáng sớm và nó thấy cái đuôi ngay bên cạnh nó - một cách tự
nhiên, tò mò phát sinh: Sao không bắt lấy nó? Nó thử, không được, cảm thấy bực
mình, khó chịu; thử mạnh hơn, thất bại mạnh hơn, trở nên điên, khùng. Nhưng nó
sẽ không bao giờ có khả năng bắt được đuôi - đấy là đuôi riêng của nó. Nó càng
nhảy lên, cái đuôi cũng sẽ càng nhảy lên.
Tâm
lí học có thể cho bạn vài điều sáng suốt nhìn vào tâm trí, nhưng bởi vì nó
không thể đưa bạn vượt ra ngoài tâm trí nên nó không thể có ích gì được.
Sam
trở thành nhà tâm thần và bắt đầu làm ăn phát đạt. Anh ta mua về một chiếc xe
hơi to đắt tiền và lái nó lần đầu tiên. Anh ta vừa lái được một chốc, một chiếc
xe khác đâm sầm vào anh ta. Anh ta nhảy ra khỏi chiếc Cadillac bẹp dúm, đi tới
chiếc xe đã đụng vào xe mình, rung rung nắm đấm với nó, và gầm lên, "Đồ
ngu! Đồ khờ! Đồ đê tiện! Đồ chó... !" Thế rồi anh ta sực nhớ mình là nhà
tâm thần và hạ giọng xuống hỏi một cách mềm mỏng, "Sao anh ghét mẹ
anh?"
Tâm
lí học chẳng thể giúp ích được. Tôi đã nghe kể một câu chuyện khác về cũng anh
chàng Sam này - một câu chuyện khi anh ta không còn trên thế giới này nữa, anh
ta đã chết.
Bà
quả phụ chăm sóc cây quanh nấm mồ của chồng mình. Khi bà ấy nghiêng người qua,
vài nhành cỏ xuyên vào chỗ da trần dưới váy bà ấy. Giật mình, bà ấy nhanh chóng
quay lại, nhưng chẳng thấy ai cả. Thở dài, bà ấy quay nấm mồ và thì thào,
"Sam ơi, cư xử cho phải phép vào! Và nhớ đấy, anh được coi là chết rồi
mà."
Tâm
lí học sẽ không giúp gì mấy cho bạn cả trong sống lẫn trong chết. Bạn có thể được
giúp đỡ chỉ bởi tôn giáo.
Bây
giờ các nhà tâm lí đang cố gắng đóng vai trò của người thầy, hoàn toàn chỉ giả
vờ. Nhà tâm lí, nhà phân tâm và nhà tâm thần đều không phải là thầy! Họ không
biết bản thân họ. Vâng, họ đã hiểu chút ít về cơ chế của tâm trí, họ đã nghiên
cứu, họ có thông tin tốt. Nhưng thông tin không bao giờ thay đổi ai cả, nó chưa
bao giờ đem tới bất kì cách mạng nào. Sâu bên dưới người này vẫn còn như cũ.
Người đó có thể nói hay, người đó có thể cho bạn lời khuyên tốt, nhưng người đó
không thể đi theo lời khuyên riêng của mình.
Nhà
phân tâm không thể là thầy được. Nhưng đặc biệt ở phương Tây ông ta đã trở nên
thành công một cách chuyên nghiệp tới mức ngay cả linh mục cũng cực kì kính nể.
Ngay cả các linh mục - Cơ đốc giáo và Tin Lành - đang nghiên cứu phân tâm học
và các trường phái khác của tâm lí, bởi vì họ thấy rằng mọi người không tới các
linh mục nữa, họ tới nhà phân tâm. Linh mục trở nên sợ rằng mình mất việc.
Linh
mục đã chi phối mọi người từ hàng trăm năm nay. Ông ta là người khôn ngoan -
ông ta đã mất hấp dẫn rồi. Và mọi người không thể sống được mà thiếu các cố vấn;
họ cần ai đó bảo họ phải làm gì bởi vì họ chưa bao giờ trưởng thành. Họ giống
như trẻ nhỏ, bao giờ cũng cần được bảo cho cái gì làm và cái gì không làm. Mãi
cho tới nay các linh mục vẫn thường làm điều đó; bây giờ linh mục đã mất sức mê
hoặc của mình, sự hợp thức của mình. Ông ta không còn đương đại nữa, ông ta đã
trở thành lạc hậu rồi. Bây giờ nhà phân tâm đã chiếm vị trí của ông ta, nhà
phân tâm là tu sĩ thời nay.
Nhưng
như tu sĩ là giả, nhà phân tâm cũng vậy. Tu sĩ đã dùng lối nói tôn giáo để khai
thác mọi người; nhà phân tâm dùng lối nói khoa học để khai thác cũng người đó.
Tu sĩ không thức tỉnh mà nhà phân tâm cũng không thức tỉnh.
Con
người có thể được giúp đỡ chỉ bởi ai đó đã là vị phật; bằng không người đó
không thể được giúp đỡ.
Mọi
cố vấn của bạn sẽ làm cho bạn ngày một trở thành đống lộn xộn nhiều hơn. Bạn
càng nghe cố vấn, bạn sẽ càng trở thành đống lộn xộn lớn hơn - bởi vì họ không
biết điều họ nói! Họ thậm chí không đồng ý trong bản thân họ. Freud nói điều
này, Adler nói điều khác, Jung lại nói điều khác. Và bây giờ có cả nghìn lẻ một
trường phái. Và mọi trường phái đều cuồng tín về triết học của nó - rằng nó có
chân lí, toàn thể chân lí và không có gì ngoài chân lí. Mà không chỉ nó nói rằng
nó đúng đâu; nó nói nó có chân lí, và mọi người khác đều nói dối, lừa dối.
Nếu
bạn nghe theo các nhà phân tâm này, nếu bạn đi từ nhà phân tâm này sang nhà
phân tâm khác, bạn sẽ còn bị phân vân hơn. Giúp đỡ duy nhất họ có thể trao cho
bạn là ở chỗ nếu bạn đủ thông minh bạn sẽ trở nên ngán họ, chán họ tới mức bạn
sẽ đơn giản vứt bỏ cái ý tưởng về được biến đổi, và bạn có thể bắt đầu sống cuộc
sống của bạn một cách bình thường, chẳng bận tâm nhiều tới biến đổi - nếu bạn
thông minh, điều rất hãn hữu, bởi vì thông minh đã bị nghiền nát từ ngay ban đầu.
Bạn bị làm cho thành người xoàng xĩnh. Từ ngay chính ban đầu, thông minh đã bị
phá huỷ. Chỉ vài người bằng cách nào đó trốn thoát khỏi xã hội và vẫn còn thông
minh.
Nagesh,
bạn hỏi tôi, "Tôi phải làm gì bây giờ?"
Gợi
ý của tôi là: bạn đã làm đủ rồi. Bây giờ học cái gì đó không phải là làm mà là
vô làm. Ở đây đi, và học - không làm mà hiện hữu. Ngồi im lặng, không làm gì.
Trong vòng ba tới chín tháng, nếu người ta đủ kiên nhẫn và nếu người ta có thể
đơn giản cứ ngồi đó hàng giờ với nhau mọi ngày - chừng nào người ta có thể tìm
thấy thời gian để ngồi... Ban đầu, rối loạn lớn sẽ nảy sinh trong tâm trí bạn;
mọi thứ từ vô thức sẽ bắt đầu nổi lên bề mặt. Bạn sẽ thấy nó dường như bạn sắp
phát điên. Cứ quan sát - đừng lo nghĩ. Bạn không thể phát điên được bởi vì bạn
đã điên rồi, cho nên chẳng có gì để mất và không cái gì để sợ .
Một
chính khách, một chính khách lớn, tới tư vấn một nhà phân tâm. Chính khách này
đang bị phức cảm kém cỏi - mọi chính khách đều bị phức cảm kém cỏi. Nếu họ
không bị phức cảm kém cỏi, họ sẽ không là chính khách ngay chỗ đầu tiên. Là
chính khách nghĩa là cố gắng là cao siêu, có quyền lực, để cho người ta có thể
chứng minh cho người khác và cho bản thân mình, "Tôi không kém cỏi. Trông
đây! Tôi là thủ tướng. Trông đây! Mỗi tôi là thủ tướng của đất nước chứ không
phải ai khác - làm sao tôi có thể kém cỏi được?"
Chính
trị nảy sinh từ phức cảm kém cỏi - mọi chính trị quyền lực đều nảy sinh từ phức
cảm kém cỏi. Cho nên không phải hiếm hoi mà chính khách bị chứng phức cảm kém cỏi.
Nhà
phân tâm làm việc trên chính khách này hết năm nọ tới năm kia. Sau hai hay ba
năm, nghe đủ mọi điều lảm nhảm vô nghĩa của ông ta... bởi vì chính khách có thể
nói gì được? Trong hàng giờ ông ta nằm dài trên tràng kỉ và nói những điều vô
nghĩa.
Sau
ba năm, một hôm khi ông ta tới, nhà phân tâm đón ông ta với vui vẻ lớn và nói,
"Tôi vui mừng tuyên bố, sau nghiên cứu ba năm trên ông, rằng ông không bị
chứng phức cảm kém cỏi. Tôi đã đi tới kết luận này sau một nỗ lực dài rằng điều
đó không thể sai được. Ông không bị chứng phức cảm kém cỏi - đơn giản quên hết
về nó đi."
Chính
khách này rất sung sướng và ông ta nói, "Tôi biết ơn ông lắm, nhưng ông có
thể cho tôi biết làm sao ông đã đi tới kết luận này không?"
Nhà
phân tâm nói, "Bởi vì ông đơn giản kém cỏi rồi - làm sao ông có thể bị chứng
phức cảm kém cỏi được?"
Nagesh,
bạn không cần lo nghĩ. Nếu ngồi im lặng bạn bắt đầu cảm thấy điên khùng nảy
sinh, đừng lo nghĩ - bạn không thể điên hơn bạn đã điên vậy rồi. Con người
không thể sa ngã thêm nữa. Con người đã ngã xuống đá đáy rồi. Bây giờ không còn
sa ngã thêm nữa.
Ngồi
im lặng bạn sẽ thấy điên khùng nảy sinh trong mình, bởi vì nó vẫn còn bị kìm
nén. Và bạn bị giữ bận tâm với mọi thứ - tâm lí học vân vân - bây giờ bạn sẽ trở
nên bận tâm với thiền và tính chất sannyas, nhưng đây tất cả là bận tâm và bạn
không cho phép vô thức của mình làm lộ bản thân nó ra cho bạn. Điều đó gây kinh
hãi.
Gợi
ý của tôi cho bạn là, chỉ ngồi im lặng nhiều nhất khi bạn có thể có thời gian
cho nó. Thiền nhân
ngồi im lặng ít nhất sáu tới tám giờ một ngày. Ban đầu điều đó thực sự là điên
khùng. Tâm trí giở ra nhiều thủ đoạn với bạn, cố dẫn bạn phát rồ, tạo ra những
hình ảnh kinh sợ, những ảo giác. Thân thể bắt đầu giở trò với bạn... đủ loại điều
sẽ xảy ra. Nhưng nếu bạn có thể cứ chứng kiến, trong vòng ba tới chín tháng mọi
sự được lắng đọng, và lắng đọng theo cách riêng của nó - không phải bởi vì bạn
phải làm cái gì đó. Không có việc làm của bạn, nó đơn giản lắng đọng, và khi
tĩnh lặng nảy sinh, cái không được trau dồi, cái không được thực hành, nó là
cái gì đó tuyệt vời, cái gì đó cực kì duyên dáng, thanh tú. Bạn chưa bao giờ nếm
trải cái gì giống như nó trước đây - nó là nước cam lồ thuần tuý...
Bạn
đã siêu việt lên trên tâm trí! Mọi vấn đề tâm trí đều được giải quyết. Không phải
là bạn đã tìm thấy giải pháp, mà đơn giản chúng đã tự rơi rụng đi - bởi việc chứng
kiến, chỉ bởi việc chứng kiến.
Bạn
đã quá thông thái. Đừng thêm tri thức nữa; bạn cần dỡ bỏ bớt. Người thông thái
là người rất tinh ranh - họ bao giờ cũng có thể tìm ra cớ để vẫn còn như cũ.
Một
giáo sư triết học và tâm lí học nghiện rượu lậu. Một đêm, sau khi ăn uống no
nê, ông ta đi và buồng ngủ, cởi quần áo lên giường, và cố gắng thổi tắt nến.
Hơi thở nồng nặc rượu của ông ta làm bùng lên ngọn lửa.
Rùng
mình buồn bã bởi kinh nghiệm này, ông ta gọi vợ, "Đem cho anh cuốn Kinh
Thánh, Martha. Đây là bài học ghê rợn với anh. Anh sẽ phải thề."
Người
vợ sung sướng vội vàng đem cuốn Kinh Thánh lại, đứng cạnh trong khi chồng mình
đặt tay lên cuốn sách và nhìn lên trời: "Tôi xin thề với thánh thần linh
thiêng rằng tôi sẽ không bao giờ thổi tắt ngọn nến đang cháy nữa."
Tâm
trí tinh ranh. Bạn phải vượt ra ngoài tâm trí - đó là điều thiền tất cả là gì.
Câu
hỏi cuối cùng:
Thưa
Thầy kính yêu,
Thầy
dường như là thầy chứng ngộ đầu tiên kể chuyện cười - sao điều đó là như vậy?
Garima,
tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện. Câu chuyện sau trong tiếng Talmud đặc biệt được
yêu mến bởi thầy Hassid vĩ đại, Baal Shem.
Giáo
sĩ Baruch hay tới thăm bãi chợ nơi nhà tiên tri Elijah thường xuất hiện với ông
ấy. Người ta tin rằng ông ấy xuất hiện với người thánh thiện nào đó để trao cho
họ hướng dẫn tâm linh.
Một
lần Baruch hỏi nhà tiên tri, "Có người nào ở đây có phần trong thế giới để
tới không?"
Ông
ấy đáp, "Không."
Trong
lúc họ đang nói chuyện, hai người đi qua và Elijah nhận xét, "Hai người
này có phần trong thế giới để tới."
Giáo
sĩ Baruch tiến gần và hỏi họ, "Các ông làm nghề gì vậy?"
Họ
đáp, "Chúng tôi pha trò cười. Khi thấy mọi người nản chí chúng tôi làm cho
họ cười đùa lên."
Thượng
đế thích tiếng cười, Thượng đế thích người vui vẻ. Thượng đế không quan tâm khi
thấy bạn với khuôn mặt dài.
Khi
Baal Shem sắp chết, ai đó hỏi, "Thầy đã chuẩn bị đi gặp Trời chưa?"
Ông
ấy nói, "Ta bao giờ cũng đã sẵn sàng rồi. Không phải là vấn đề trở nên sẵn
sàng bây giờ - ta bao giờ cũng đã sẵn sàng. Bất kì lúc nào ngài đều có thể gọi ta!"
Người
này hỏi, "Sẵn sàng của thầy là gì?"
Baal
Shem nói, "Ta biết vài chuyện cười hay - ta sẽ kể cho ngài những chuyện cười
đó. Và ta biết ngài sẽ thích chúng và ngài sẽ cười cùng ta. Và ta còn có thể
cúng dường cho ngài cái gì khác được nữa? Toàn thể thế giới đều là của ngài,
toàn thể vũ trụ là của ngài, cho nên ta có thể cúng dường ngài cái gì? Chỉ vài
chuyện cười thôi!"
Baal
Shem là một trong những chư phật vĩ đại người đã bắt nguồn từ truyền thống Do
Thái, một trong những người được các đệ tử của mình yêu mến nhất. Ông ấy là người
sáng lập ra Hassid giáo.
Và
nhớ lấy, tôi không phải là người đầu tiên kể cho bạn chuyện cười. Có nhiều người
rồi... Nhưng mọi người buồn tới mức họ quên mất về những người đã là cội nguồn
cho tiếng cười và vui vẻ - họ chỉ nhớ những người buồn. Mọi người đều buồn; do
đó họ tìm ra đồng cảm nào đó với người buồn. Bạn chỉ nhớ chư phật buồn - cho dù
họ không buồn, bạn làm cho họ thành buồn. Trong tâm trí mình bạn bịa ra chuyện,
bạn chế tác ra các ý tưởng, và bạn làm cho họ trông buồn.
Bây
giờ người Jaina sẽ bị xúc phạm lắm nếu tôi nói rằng Mahavira đã cười. Tiếng cười
dường như trần tục thế, trần gian thế. Làm sao Mahavira có thể cười được? Nếu
tôi nói Phật đã cười, các phật tử, đặc biệt là phật tử tiểu thừa, sẽ tức giận.
Tôi đã từng cực kì yêu mến Phật; tôi nghĩ không có người nào khác trên trái đất
này ngày nay đã yêu Phật nhiều như tôi. Nhưng mới hôm nọ tôi đọc trên báo chí:
ông chủ tịch của Hội Phật giáo Ấn Độ định nêu ra câu hỏi chống tôi ở nghị viện
trong phiên họp sắp tới. Tôi có thể hiểu được, những người này phải cảm thấy rất
bị xúc phạm bởi vì tôi đang cho Phật màu sắc mới - màu sắc của ông ấy, màu của
Phật. Tôi đang cố gắng đem thực tại của ông ấy cho bạn. Và những người này đã
bóp méo toàn bộ hình ảnh của ông ấy; họ đã làm cho ông ấy trông buồn thế, họ sẽ
không cho phép ông ấy cười. Nếu ông ấy cười, họ sẽ nêu ra câu hỏi chống ông ấy
trong nghị viện.
Tôi
xúc phạm mọi người bởi vì tôi đang cố gắng làm sống tôn giáo không theo các ý
tưởng của họ. Tôi bảo bạn, một cách riêng tư tất nhiên, rằng Jesus thường đùa -
nhưng đừng kể điều đó cho người Ki tô giáo nhé, họ sẽ không hiểu. Họ có thể chỉ
hiểu Jesus bị đóng đinh. Thực ra, họ đang tôn thờ cái chết, không phải Jesus; họ
đang tôn thờ cây thập tự, không phải Christ. Do đó tôi gọi Ki tô giáo là Chữ thập
giáo - nó chẳng liên quan gì tới Christ. Tôi biết con người này, về mặt cá nhân
tôi biết con người này!
Ông
ấy thường yêu mến mọi điều tốt của cuộc sống. Làm sao ông ấy có thể tránh được
chuyện cười? Ông ấy thích chuyện tầm phào, và người ta nói ông ấy chỉ toàn chuyển
giao sách phúc âm! Ông ấy là con người rất, rất bắt rễ vào đất. Ông ấy đi với tụi
đánh bạc, với kẻ say, với cả gái đĩ nữa. Ông ấy chẳng sợ tất cả những kẻ ngu
này - đó là lí do tại sao ông ấy phải chịu khổ.
Đó
là lí do tại sao tôi chịu khổ...
Đủ
cho hôm nay.


Posted in: 
0 nhận xét:
Post a Comment